Thoái hóa khớp gối

14/11/2016 09:47:47

Thoái hoá khớp gối là bệnh thoái hoá loạn dưỡng của khớp gối...

1. Khái niệm:
 
- Thoái hoá khớp gối là bệnh thoái hoá loạn dưỡng của khớp gối, biểu hiện sớm nhất ở sụn khớp sau đó là biến đổi ở bề mặt khớp, hình thành các gai xương cuối cùng dẫn đến biến dạng khớp.
 
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện và tiến triển của thoái hóa khớp như tuổi, giới tính, tình trạng quá cân, yếu tố di truyền, bất thường về giải phẫu, tình trạng chấn thương.
 
2. Dịch tễ học:
 
- Bệnh gặp ở hầu hết mọi quốc gia, chủng tộc.
 
- Bệnh hay gặp ở những người lớn tuổi, cả nam và nữ.
 
- Nghề nghiệp có liên quan đến tỉ lệ mắc bệnh thoái hoá khớp, những công nhân khuân vác, những thợ mỏ có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn những người làm công việc nhẹ.
 
- Ở lứa tuổi 45-55 tỉ lệ mắc bệnh ở nam và nữ ngang nhau, nhưng sau tuổi 55 bệnh gặp ở phụ nữ với tỉ lệ cao hơn so với nam.
 

Nguyên nhân:

- Nhiều trường hợp không xác định được nguyên nhân (thoái hóa khớp gối nguyên phát)
 
- Do rối loạn chuyển hóa, chấn thương và bất thường về giải phẫu (thoái hóa khớp gối thứ phát)
 
Cơ chế bệnh sinh
 
- Có nhiều giả thuyết giải thích sự thoái hoá sụn trong bệnh thoái hoá khớp nhưng chủ yếu là thuyết cơ học.  Khi có sự quá tải cơ học làm thay đổi chuyển hoá của các tế bào sụn, hình thành một số men gây phá vỡ các chất căn bản của sụn. Biểu hiện đầu tiên là những mảnh gãy nhỏ sau đó gây thoái hoá và mất dần sụn khớp, biến đổi cấu trúc của khớp và hình thành gai xương.
 
- Quá trình thoái hoá khớp không kiểm soát được vì khi có biến đổi cấu trúc sụn , tác động cơ học lên khớp cũng thay đổi dẫn đến quá tải nặng hơn, làm giải phóng nhiều men gây thoái hoá hơn và tiếp tục như vậy quá trình thoái hoá liên tục xảy ra.

Các yếu tố, nguy cơ:

- Chấn thương lớn gây gẫy xương, trật khớp gối.
 
- Thiếu máu, hoại tử xương, loạn dưỡng xương.
 
- Chấn thương khớp gối làm thay đổi bề mặt sụn, tổn thương sụn khớp.
 
- Các dị tật bẩm sinh vùng khớp gối.
 
- Viêm khớp nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mãn tính (viêm mủ khớp, lao khớp).
 
- Viêm khớp do các bệnh khớp mãn tính (viêm khớp dạng thấp...).
 
- Yếu tố nội tiết và chuyển hoá: bệnh to đầu chi, suy chức năng tuyến giáp, phụ nữ sau mãn kinh
 
- Rối loạn dinh dưỡng sau các bệnh thần kinh.
 
- Bệnh rối loạn đông chảy máu, u máu.

Triệu chứng, biểu hiện:

- Đau khớp gối: Là dấu hiệu than phiền chính của bệnh nhân. Đau mặt trước hoặc trong khớp gối, đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi đặc biệt khi chuyển tư thế từ ngồi sang đứng. Giai đoạn đầu đau âm ỉ, không liên tục, xuất hiện khi thực hiện một số động tác đặc biệt như lên xuống bậc thang, ngồi xổm, quỳ gối. Giai đoạn muộn, đau tăng và kéo dài liên tục.
 
- Hạn chế vận động: Bệnh nhân thấy khó khăn khi thực hiện động tác gập và duỗi gối.
 
- Có thể có tiếng “lạo xạo" trong khớp gối khi cử động.
 
- Cứng khớp gối: Thường xuất hiện vào buổi sáng hoặc sau khi  bất động lâu. Dấu hiệu này được cải thiện nhanh sau khi người bệnh cố gắng cử động.
 
- Sưng khớp gối: Khớp có thể sưng to do tràn dịch hoặc mọc chòi xương. Có thể có khối u vùng khoeo mặt sau khớp gối do thoát vị màng hoạt dịch khớp gối (còn gọi là nang Baker).
 
- Teo cơ: ở mặt trước đùi do không vận động.
 
- Biến dạng khớp: Chân bị lệch trục kiểu vòng kiềng (chân chữ O) hoặc kiểu chân chữ X. Dần dần đưa đến tình trạng mất chức năng vận động.
 
- Dấu hiệu Xquang có hình ảnh hẹp khe khớp không đều (thường hẹp nhiều ở mặt trong), kết đặc xương dưới sụn, hình ảnh mọc thêm xương (gai xương, chồi xương) ở mặt và rìa khớp.

Chẩn đoán bệnh:

Để chẩn đoán thóa hóa khớp gối cần dựa vào hỏi bệnh, thăm khám và chụp Xquang
 
1. Hỏi bệnh:
 
Bệnh nhân thấy các dấu hiệu như đau khớp gối, hạn chế vận động, cứng khớp…như mô tả phần triệu chứng.
 
2. Thăm khám:
 
Thấy sưng khớp, ấn vào có tiếng lạo xạo, thấy teo cơ hay biến dạng khớp ở giai đoạn muộn
 
3. Hình ảnh Xquang
 
- Hình ảnh phì đại xương, gai xương ở rìa khớp.
 
- Hẹp khe khớp không đồng đều, đậm đặc xương dưới sụn.
 
- Hình ảnh gai xương.
 
* Lưu ý:
 
- Các xét nghiệm khác như xét nghiệm máu thường dùng để phát hiện những trạng thái bệnh lý khác đi kèm hoặc theo dõi diễn biến trong quá trình điều trị thoái hóa khớp gối.
 
- Cần chú ý phân biệt thoái hóa khớp gối với viêm khớp dạng thấp và bệnh khác có liên quan đến viêm khớp như viêm khớp vảy nến hay bệnh gút mạn tính.

Phòng ngừa:

- Chống các tư thế xấu trong sinh hoạt và lao động. Tránh các động tác mạnh, đột ngột khi mang vác hoặc lao động nặng.
 
- Điều chỉnh cân nặng ở trọng lượng lý tưởng.
 
- Phát hiện và sửa chữa các dị dạng xương, khớp gối, đặc biệt ở trẻ em.
 
- Đục xương chỉnh trục trong lệch trục khớp gối (vừa là dự phòng, vừa để điều trị thoái hóa).
 
Ngay khi có triệu chứng đau vùng gối, bệnh nhân cần đi khám ngay để được chụp X-quang, phát hiện và điều trị những tổn thương ở khớp gối, ngăn ngừa bệnh âm thầm phát triển, có thể dẫn đến không đi lại được.

Điều trị:

Hiện nay chưa có thuốc chữa quá trình thoái hóa của khớp. Việc  điều trị nhằm giảm đau cho người bệnh và phục hồi chức năng vận động của khớp.
 
1. Điều trị nội khoa
 
Cần phối hợp nhiều phương pháp
 
1.1. Phương pháp không dùng thuốc: Nhằm hạn chế tối đa lực cơ học tác động lên khớp bị tổn thương
 
- Sử dụng nạng, gậy khi di chuyển
 
- Giảm cân nặng
 
- Tránh các hoạt động gây đau khớp
 
1.2. Sử dụng vật lý trị liệu: Có tác dụng giảm đau tốt với mục đích chữa tư thế xấu và duy trì dinh dưỡng cơ ở cạnh khớp, điều trị đau gân và cơ kết hợp tăng sức mạnh của cơ. Các biện pháp bao gồm mát-xa cơ, tập vận động khớp và các biện pháp dùng nhiệt lượng (hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân…).
 
1.3. Phương pháp dùng thuốc
 
Sử dụng các nhóm thuốc sau:
 
- Thuốc giảm đau, chống viêm
 
- Thuốc chống thoái hóa hoặc làm chậm quá trình thoái hóa khớp
 
- Sử dụng thuốc corticoid trong trường hợp viêm và tràn dịch khớp gối
 
2. Điều trị ngoại khoa
 
Được áp dụng với các trường hợp khớp gối hạn chế chức năng nhiều, khe khớp hẹp nặng, biến dạng khớp hoặc đau khớp không đáp ứng với các phương thức điều trị nội khoa.
 
- Nội soi khớp: Được áp dụng khi  thực hiện các thủ thuật sửa chữa, bơm rửa làm sạch khớp, loại bỏ dị vật ở khớp (nếu có)
 
- Sửa chữa các khớp bị lệch trục như khớp gối vẹo vào trong kiểu chân chữ X hoặc cong ra ngoài vòng kiềng (chân chữ O).
 
- Thay khớp gối nhân tạo từng phần hoặc toàn phần chỉ định đối với các trường hợp thoái hóa khớp gối nặng mà các biện pháp điều trị khác không hiệu quả.

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

1. Chế độ dinh dưỡng:
 
- Giai đoạn khớp sưng đau nên ăn uống thanh đạm, chủ yếu các thức ăn giải nhiệt như dưa hấu, bí xanh, ngó sen non, đậu phụ..., kiêng ăn các thức cay nóng, đồ nướng, ớt, rượu, thịt mỡ, …
 
- Đây là bệnh có tổn thương sụn khớp nên cần ăn nhiều thức ăn có giàu chất sụn và có lợi cho việc sửa chữa khôi phục sụn khớp như vây cá.
 
Món ăn bài thuốc (tham khảo)
 
Bài 1: Bí xanh 500g, xương sườn lợn 250g, nấu canh ăn, nên ăn nhạt, dùng chữa giai đoạn phát cơn, chủ yếu là giai đoạn sưng, ít nóng đỏ, hoặc giai đoạn giải trừ bệnh để giữ gìn sức khỏe, phòng tái phát.
 
Bài 2: Mướp tươi 250g, đậu phụ non 250g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn, dùng chữa giai đoạn phát cơn cấp tính có sưng, nóng đỏ đau ở mức độ nhẹ.
 
Bài 3: Đậu xanh 100g, ý dĩ nhân 50g, đường cát, hoa quế vừa đủ, nấu canh ăn điểm tâm, sớm tối ngày 2 lần, dùng chữa giai đoạn cấp tính, sưng nóng đỏ đau rõ rệt, hạn chế cử động.
Bài 4: Hồng táo 10 quả, ý dĩ nhân 50g (không dùng đường) nấu canh ăn điểm tâm, chia 2 lần sớm tối ăn hết, dùng chữa giai đoạn giải trừ dần, sưng đau không còn rõ nữa, chỉ còn mệt mỏi.
 
Bài 5: Ý dĩ nhân 50g, đậu xanh 25g, bách hợp tươi 100g. Bách hợp tẽ cánh, xé bỏ màng trong, dùng chút muối tinh bóp nhẹ, rửa sạch để bỏ vị đắng, đậu xanh và ý dĩ nhân rửa sạch, đun sôi, đun nhỏ lửa tới khi đậu nhừ, sau thêm bách hợp cùng nấu tới đặc. Khi ăn thêm chút đường trắng, sớm tối mỗi lần ăn một bát con, dùng chữa âm hư, nóng trong, khớp gối sưng nóng đỏ đau nhiều.
 
Bài 6: Bột bạch phục linh 20g, xích tiểu đậu 50g, đại táo 10 quả, gạo tẻ 100g. Xích tiểu đậu nấu tới 10 phần chín 5, rồi thêm gạo tẻ và đại táo vào nấu cháo, khi sắp đặc, thêm bột phục linh vào nấu thành cháo đặc, dùng chữa khớp gối sưng lan, hơi nóng.
 
Bài 7: Nam ngũ gia bì 50g, gạo nếp 500g, ngũ gia bì rửa sạch, thêm nước ngâm no, sắc nước, cứ 30 phút lấy nước sắc 1 lần, cộng lại 2 lần, đem nước đó nấu với gạo nếp thành cơm nếp hơi khô, để nguội, thêm men rượu vừa đủ, trộn đều, lên men thành rượu cái. Mỗi ngày lượng vừa đủ ăn trong bữa ăn, dùng chữa giai đoạn giải trừ dần, có đau mỏi không chịu được gió lạnh.
 
Bài 8: Đậu tương 30g, hồng trà 2g, muối ăn 0,5g, nước 500ml. Nấu đậu tương tới chín, lấy nước, thêm hồng trà, muối ăn đun sôi. Mỗi lần uống 100ml, chia 4 lần, sau ăn đậu tương, mỗi ngày 1 thang, có tác dụng thông ẩm tiêu sưng, dùng chữa khớp gối sưng khá rõ nhưng không nóng đỏ.
 
2. Luyện tập thể thao
 
Thoái hóa khớp gối là một bệnh mãn tính, điều trị bệnh là cả một thời gian kiên trì kết hợp giữa điều trị bằng thuốc, vật lý trị liệu, chế độ ăn uống, thay đổi thoái quen sinh hoạt, thể dục thể thao nhẹ… Dưới đây là 6 động tác giúp cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối có thể giảm cơn đau.
 
Động tác 1
 
Nằm trên sân cứng 2 chân duỗi thẳng sau đó gập cẳng chân và đùi, gập đùi vào bụng sau đó trở về tư thế ban đầu làm 15-20 nhịp.
 
Động tác 2
 
Nằm co 2 chân, hai bàn tay đặt lên 2 gối xoay tròn theo chiều kim đồng hồ 15-20 nhịp rồi quay ngượi chiều kim đồng hồ 15-20 nhịp.
 
Động tác 3
 
Ngồi thẳng trên 1 chiếc ghế, chân để vuông góc với đùi đá chân đau về phía trước chếch với đùi 1 góc 150 độ giữ vài dây rồi trở về tư thế ban đầu.
 
Động tác 4
 
Ngồi như động tác 3 để thẳng chân với mặt ghế giữ vài giây trở lại tư thế ban đầu. Lặp lại động tác 10 lần.
 
Động tác 5
 
Đứng thẳng, lấy mũi chân làm trụ quay tròn gối theo chiều kim đồng hồ rồi ngược chiều kim đồng hồ trong 3 phút.
 
Động tác 6
 
Đứng hơi cúi, hai tay đặt lên 2 gối quay 2 gối theo chiều kim đồng hồ rồi làm ngược lại trong 1 phút.

Bài thuốc dân gian:

Trong kho tàng Y học cổ truyền còn lưu truyền và sử dụng rộng rãi nhiều bài thuốc trong điều trị bệnh thoái hóa khớp gối. Các bài thuốc sau đây chỉ mang tính tham khảo, việc sử dụng cần có hướng dẫn cụ thể của thầy thuốc
 
Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang:
 
Độc hoạt 12g, tế tân 4, sinh địa 12g, đảng sâm 12g, quế chi 4g, phòng phong 10g, đương quy 12g, phục linh 10g, tang ký sinh 16g, ngưu tất (Bắc) 12g, bạch thược 10g, cam thảo (Bắc) 4g, tần giao 8g, đỗ trọng (Bắc) 12g, xuyên khung 8g.
Bài thuốc PT5:
 
Lá lốt 10g, thiên niên kiện 10g, hà thủ ô 12g, mắc cỡ (trinh nữ) 12g, cỏ xước 16g, sinh địa 12g, quế chi 8g, thổ phục linh 16g.
Các phương pháp không dùng thuốc:
 
Châm cứu: thường chọn các huyệt tại chỗ như: độc tỵ, hạc đỉnh, âm lăng tuyền... Châm tả (kích thích xung điện với tần số 60 -100Hz), hoặc cứu tả.
 
- Kết hợp bổ khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương: dùng châm bổ các huyệt can du, thận du, dương lăng tuyền, huyết hải…
 
- Thủy châm (vitamine nhóm B…): thận du, can du, huyết hải…
 
- Điện phân (dùng dòng điện một chiều đều), tác dụng tốt cho giảm đau và tăng nuôi dưỡng khớp, tránh teo cơ.
 
- Châm ngày 1 lần, một liệu trình từ 10 -20 lần châm.
 
Nghỉ ngơi: nên nghỉ nghơi, hạn chế đi lại khi khớp gối đau sưng.
 
- Các biện pháp bảo vệ khớp: tránh đi bộ nhiều, đeo băng thun khớp gối.
 
Đau nhiều dùng nạng, can chống.
 
- Chú ý vấn đề giảm cân đối với các bệnh nhân béo phì... Với nghề nghiệp phải đứng lâu, nếu có thể hướng dẫn cho người bệnh nhân thích nghi với điều kiện làm việc.
 
Vật lý trị liệu: phục hồi chức năng nhằm giảm đau, duy trì vận động khớp, làm mạnh cơ tứ đầu đùi, ngăn ngừa biến dạng khớp gối.
 
- Tập theo hướng dẫn của kỹ thuật viên.
 
- Đạp xe đạp từ 10 - 30 phút/ngày
 
- Nhiệt trị liệu: chiếu đèn hồng ngoại 15 - 30 phút/ngày. Tắm nước khoáng nóng, đắp bùn...