Vảy nến

14/11/2016 09:47:48

Bệnh vẩy nến tiến triển lâu dài, nhiều đợt...

- Là một bệnh về da có ổn thương là các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến (Vì vậy có tên gọi là “Vẩy nến”)
 
- Theo thống kê, tỷ lệ bệnh vẩy nến khác nhau tùy từng vùng, từng châu lục, song nó dao động trong khoảng 1-3% dân số. Bệnh vẩy nến là căn bệnh mang đến gánh nặng thể chất lẫn tinh thần và cả về xã hội. 125 triệu người mắc phải bệnh này trên toàn cầu, trong đó có khoảng 2,5 triệu người Việt Nam.
 
- Bệnh vẩy nến tiến triển lâu dài, nhiều đợt. Có khi sau một thời gian điều trị, bệnh ổn định, nhưng nếu không duy trì chế độ điều trị, sinh hoạt, làm việc hợp lý thì các thương tổn lại tái phát.
 
- Tùy theo tính chất, đặc điểm lâm sàng, người ta chia vẩy nến làm 2 thể chính: Thể thông thường và thể đặc biệt.
 
+ Trong thể thông thường, dựa vào kích thước, vị trí của thương tổn da, người ta phân làm các thể như: Thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng, vẩy nến ở đầu, vẩy nến đảo ngược, …
 
+ Thể đặc biệt ít gặp hơn nhưng nặng và khó điều trị hơn. Đó là các thể: Vẩy nến thể mủ, vẩy nến thể móng khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân.
 
- Bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm sinh lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh.
 

Nguyên nhân:

- Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền.
 
- Ngoài ra, một số yếu tố có ảnh hưởng, kích thích và làm bệnh tiến triển nặng thêm cũng được đề cập. Đó là các yếu tố: stress, nghiện bia, rượu, thuốc lá, nhiễm trùng, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa, khí hậu, môi trường…
 
- Một điều khẳng định chắc chắn là bệnh vẩy nến không phải là bệnh lây lan như bao người nhầm tưởng.

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

- Thương tổn da: Hay gặp và điển hình nhất là các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến (Vì vậy có tên gọi là “Vẩy nến”). Kích thước thương tổn to nhỏ khác nhau với đường kính từ 1- 20 cm hoặc lớn hơn.
 
Tuy nhiên, sau một thời gian tiến triển, các thương tổn có thể lan ra toàn thân.
 
- Thương tổn móng: Có khoảng 30 - 40% bệnh nhân vẩy nến bị tổn thương móng tay, móng chân. Các móng ngả màu vàng đục, có các chấm lỗ rỗ trên bề mặt. Có thể móng dày, dễ mủn hoặc mất cả móng.
 
- Thương tổn khớp: Tỷ lệ khớp bị thương tổn trong vẩy nến tùy từng thể. Thể nhẹ, thương tổn da khu trú, chỉ có khoảng 2% bệnh nhân có biểu hiện khớp. Trong khi đó ở thể nặng, dai dẳng có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp.
 
Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn… Một số bệnh nhân thương tổn da rất ít nhưng biểu hiện ở khớp rất nặng, đặc biệt là khớp gối và cột sống.

Chẩn đoán bệnh:

1. Chẩn đoán xác định bệnh
 
1.1. Chẩn đoán vẩy nến chủ yếu chỉ cần dựa vào lâm sàng
 
- Thương tổn da là các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến. Kích thước thương tổn to nhỏ khác nhau với đường kính từ 1- 20 cm hoặc lớn hơn.
 
- Thương tổn móng, khớp
 
1.2. Giải phẫu bệnh lý
 
thượng bì có hiện tượng tăng sừng, á sừng, tăng gai, lớp hạt biến mất, có những vi ápxe Munro gồm các bạch cầu đa nhân ở dưới lớp sừng, nhú bì kéo dài ra. Ở mô bì nông có tuẩn nhuận tế bào đơn nhân, đa nhân và mạch máu giãn nở.
 
2. Chẩn đoán phân biệt
 
- Ban giang mai dạng vẩy nến: thương tổn là sẩn vẩy, tẩm nhuận, có hạch điển hình, nghiệm pháp Brocq(-), xét nghiệm huyết thanh giang mai (+).
 
- Vẩy phấn hồng Gibert: vẩy mịn hơn, cạo Brocq (-), có một mảng to nhất ở thân mình.
 
- Á sừng dạng vẩy nến: sang thương giống như vẩy nến nhưng giới hạn không rõ, vị trí không chọn lọc, nếu cần thì làm giải phẫu bệnh lý để chẩn đoán phân biệt.
 
- Parapsoriasis: giống vẩy nến nhưng vẩy mịn hơn, brocq (-) cạo vẩy tróc ra nguyên khối.

Phòng ngừa:

Điều trị:

1. Điều trị tại chỗ: Bôi các thuốc sau đây:
 
- Mỡ Salicylé 2%, 3%, 5% có tác dụng bong vẩy, bạt sừng.
 
- Mỡ Corticoid: Eumovate, Diprosalic, … có tác dụng chống viêm rất tốt, thương tổn mất rất nhanh. Tuy nhiên, không nên lạm dụng bôi nhiều và dài ngày vì sẽ gây biến chứng làm bệnh nặng thêm.
 
- Mỡ có vitamin A axít như: Differin, Isotrex, Erylick...: Có tác dụng bình thường hóa quá trình sừng hóa của da.
 
2. Điều trị toàn thân: Có thể dùng các thuốc sau đây:
 
- Vitamin A axít: Soritane, Tigasone...
 
- Methotrexate.
 
- Cyclosporin...
 
Các thuốc này có tác dụng rất tốt, nhưng có nhiều tác dụng phụ như có thể gây quái thai, hạ bạch cầu, rối loạn chức năng gan, thận, ... Vì vậy, cần được chỉ định đúng và theo dõi nghiêm ngặt trong quá trình điều trị.
 
Corticoid và bệnh vẩy nến: Các Corticoid dùng đường uống (Prednisolone, Medrol...) hoặc tiêm tĩnh mạch (Methylprednisolone) đều có tác dụng tốt, nhanh. Nhưng chỉ nên áp dụng cho một số trường hợp đặc biệt trong một thời gian ngắn và phải được chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Nếu lạm dụng dùng liều cao kéo dài bệnh sẽ tái phát nặng và có thể gây nhiều biến chứng trầm trọng.
 
3. Trị liệu bằng ánh sáng (Phototherapy)
 
Có thể phối hợp các phương pháp trên với chiếu tia cực tím có bước sóng khác nhau (UVA, UVB) cũng có kết quả rất tốt và kéo dài thời gian ổn định bệnh.
 
Đặc biệt, hiện nay phương pháp PUVA (Psoralene Ultraviolet A) đang được áp dụng để điều trị bệnh vẩy nến các thể khác nhau và có kêt quả rất khả quan.
 
4. Phương pháp sinh học (Biotherapy)
 
Trong những năm gần đây người ta đã tổng hợp được nhiều chất sinh học có tác dụng tốt trong điều trị bệnh vẩy nến như: Efanecept, Alefacept, Efalizumab, ... Nhiều nước như Mỹ, Anh, Pháp, Uc... đã áp dụng phương pháp này và đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, phương pháp này vừa đắt tiền vừa có một số tác dụng phụ nên chưa được áp dụng rộng rãi.
 
Một điều vô cùng quan trọng là trong quá trình điều trị cần phải tư vấn cho bệnh nhân. Vì tiến triển của bệnh vẩy nến thất thường, dai dẳng nên cần khuyên bệnh nhân không được lơ là, tự động bỏ thuốc khi thấy thương tổn đã giảm.
 
Hướng đẫn bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị theo từng giai đoạn bệnh, đồng thời phải hạn chế bia, rượu, thuốc lá, tránh các stress và điều trị triệt để các bệnh mạn tính khác nếu có. Có như vậy mới tránh được các biến chứng và bệnh sẽ ổn định lâu dài.

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

1. Dưỡng ẩm
 
Bước đầu tiên để trị dứt bệnh vẩy nến đó là dưỡng ẩm cho da. Đặc biệt trong các tháng mùa đông lạnh, bạn cần giữ cho da có đủ độ ẩm cần thiết để giảm thiểu những nốt mẩn đỏ, ngứa cũng như khô da. Hãy làm bạn với những loại kem dưỡng ẩm không mùi phù hợp với làn da của bạn.
 
2. Tắm muối biển
 
Tắm với muối biển là cách tuyệt vời để thư giãn và dưỡng da. Ngoài ra, bột yến mạch cũng là một loại “sữa tắm” tự nhiên vô cùng hiệu quả để làm dịu làn da bị tấy rát của bạn. Một nghiên cứu gần đây đã cho thấy những người tắm với muối biển 10% khoảng 3-4 lần/tuần có thể cải thiện tình trạng nổi đỏ và ngứa rát một cách đáng kể. Không những vậy, tắm muối biển cũng hiệu quả tương tự với chứng mất ngủ, eczema và chứng viêm khớp.
 
3. Quả ô liu
 
Ăn quả ô liu tươi hoặc thoa dầu ô liu lên da là một cách tuyệt vời để “xử lí” bệnh vẩy nến. Dầu ô liu được biết đến như một chất dưỡng ẩm tự nhiên làm mềm mịn và dịu nhẹ với da. Quả ô liu và tinh chất dầu của nó giúp trị gàu, eczema, giảm nguy cơ mặc bệnh tim đồng thời còn giúp chữa trị các triệu chứng sau khi nhậu say. Vậy bạn còn chần chừ gì nữa?
 
4. Làm ẩm không khí
 
Dùng máy làm ẩm không khí là một giải pháp hữu hiệu nhất để tránh cho không khí trong ngôi nhà bạn không bị khô dẫn đến làn da bị mất độ ẩm tự nhiên. Không khí khô có thể làm tổn hại đến bất cứ loại da nào; đặc biệt với những người vốn có làn da khô sẽ rất dễ mắc bệnh vẩy nến. Vì vậy, hãy cân nhắc sắm một chiếc máy làm ẩm không khí bởi nó còn hiệu quả với những người bị bệnh khô mắt, làm giảm các triệu chứng cảm lạnh và cảm cúm cũng như tránh khô môi.
 
5. Tận hưởng ánh nắng mặt trời
 
Hãy ra ngoài và tận hưởng không khí tự nhiên cùng ánh nắng mặt trời sẽ giúp bạn lấy lại tâm trạng vui tươi đồng thời đó cũng là cách đơn giản nhất để trị bệnh vẩy nến. Tuy nhiên, bạn cần nhớ thoa kem chống nắng trước khi ra ngoài. Hãy bắt đầu với 10 phút sau đó tăng dần thời gian lên 20-30 phút mỗi lần. Bạn nên cẩn thận khi ở quá lâu ngoài nắng sẽ làm da hư tổn và tư vấn ý kiến của bác sĩ bởi một số loại thuốc chống vẩy nến kích ứng với ánh nắng mặt trời.
 
6. Dấm táo
 
Dấm táo còn có công dụng bất ngờ trong việc giúp giảm các triệu chứng của bệnh vẩy nến. Do đó, bạn có thể ngâm các ngón tay và chân vào dấm táo hoặc tẩm bông với dung dịch dấm táo rồi thoa lên vùng da đó. Bạn có thể chuẩn bị dung dịch với công thức sau: 1 chén dấm táo với khoảng 3,8 lít nước, dùng một miếng vải sạch nhúng vào dung dịch và thoa đều lên da.
 
7. Màng nhựa bọc thực phẩm
 
Nghe có vẻ không mấy liên quan đến bệnh vẩy nến nhưng nhiều người đã thực hiện theo phương pháp này và hiệu quả khá khả quan. Sau khi thoa thuốc như thông thường, hãy dùng màng bọc thực phẩm cuốn kín vùng da đó lại. Việc này giúp thuốc dễ dàng thẩm thấu sâu vào da cũng như giữ cho vùng da đó được giữ ẩm tốt hơn.
 
8. Lô hội
 
Bạn có biết rằng cây lô hội có công dụng chữa bệnh vẩy nến hiệu quả không? Bạn có thể mua lá lô hội ở siêu thị hoặc cắt lá tươi ngay từ cây rồi thoa dịch đó lên da. Dịch lá lô hội thực sự là chất dưỡng ẩm hoàn toàn tự nhiên với tác dụng làm làn da khỏe mạnh hơn.

Bài thuốc dân gian:

Về căn nguyên, bệnh thường do bản tạng là huyết nhiệt khi gặp phải các yếu tố lục dâm phong, hàn, nhiệt, táo, thấp sẽ có các biểu hiện khác nhau. Nhưng lâm sàng thường tập trung vào 3 thể lớn: huyết hư, huyết nhiệt và huyết ứ; khi có nhiễm trùng là thể nhiệt độc.
 
Phép trị: Tăng cường chức năng giải độc của gan, sơ phong, mát gan mát huyết, thanh nhiệt, trừ thấp. Bệnh lâu cần Khu phong, dưỡng huyết hoạt huyết, nhuận táo thu hiệu quả tốt.
Bài thuốc tham khảo:
 
+ Phương 1: Hoàng kỳ Quế chi thang
 
- Thành phần: Hoàng kỳ 50g, Quế chi 15g, Đương qui 15g, Phòng phong 15g, Liên kiều 15g, Cam thảo 10g.
 
- Cách dùng: Thuốc trên thêm lượng nước thích hợp ngâm, sắc, mỗi ngày 1 thang, phân 2 lần, uống ấm.
 
- Chứng thích ứng: Vẩy nến.
 
- Chú ý: Thời gian uống thuốc kiêng ăn đồ cay nóng.
 
+ Phương 2: Sinh Nguyên Ẩm
 
- Thành phần: Sinh địa, Huyền sâm, Chi tử, Bản lam căn mỗi vị 15g, Bồ công anh, Cúc hoa, Cát cánh, Đương qui, Xích thược, Thiên hoa phấn mỗi vị 10g, Bối mẩu, Thổ phục linh, Địa đinh thảo mỗi vị 12g, Cam thảo 6g.
 
- Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày 1 thang, phân 2 lần, uống ấm.
 
- Chứng thích ứng: Vẩy nến.