Hội chứng ngưng thở khi ngủ

14/11/2016 09:47:48

Trong giấc ngủ đêm, có tới 4% phụ nữ và 9% nam giới độ tuổi 30-60 bị ngừng thở đến hơn 30 lần (trung bình 5-10 lần/giờ).

1. Định nghĩa
 
Trong giấc ngủ đêm, có tới 4% phụ nữ và 9% nam giới độ tuổi 30-60 bị ngừng thở đến hơn 30 lần (trung bình 5-10 lần/giờ). Thời gian ngừng thở kéo dài khoảng 10 giây hoặc lâu hơn có thể khiến họ từ giã cõi đời mà không ai biết. Y học hiện đại có nhiều cách khắc phục hội chứng nguy hiểm này.
 
Hội chứng ngừng thở khi ngủ (Sleep Apnea Syndrome, gọi tắt là SAS) là một số rối loạn đặc trưng bởi ngừng thở từng lúc về đêm, khi ngủ dẫn tới thiếu ôxy máu (SaO2 giảm).
 
Bình thường, khi bệnh nhân hít vào, các cơ hô hấp co rút lại, nhất là cơ hoành co lại, làm vòm hoành hạ thấp, đồng thời cũng co thắt các cơ ở đường hô hấp trên (nhất là cơ lưỡi cằm). Khi bệnh nhân ngủ, các cơ giãn, mũi họng giảm trương lực, đường thở có khuynh hướng dễ khép lại, đóng lại. Khi ngủ trong tư thế nằm ngửa, lưỡi dễ tụt ra sau, làm đường thở trên càng bị đóng lại, gây ngừng thở. Bệnh nhân phải tỉnh giấc mới làm cho tình trạng ngừng thở chấm dứt.
 
2. Các loại ngừng thở khi ngủ
 
- Ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn: Luồng khí thở bị cản lại ở tỵ hầu, nhưng cơ hoành và các cơ hô hấp vẫn hoạt động.
- Ngừng thở trung tâm khi ngủ: Các cơ liên sườn và cơ hoành đều không hoạt động.
- Ngừng thở hỗn hợp: Loại này là sự kết hợp cả 2 loại trên.
 

Nguyên nhân:

Ngày nay, các yếu tố bất thường về giải phẫu ở đường hô hấp trên được xem như là nguyên nhân chính gây hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở (OSAS). Ngoài ra có vài tình trạng bệnh lý khác cũng liên quan với hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở.
 
Trong quá trình ngủ, các cơ của cơ thể được giãn ra và có thể làm cho các mô thừa lấn vào đường hô hấp trên (nền của miệng, mũi và họng) vốn dĩ đã hẹp càng hẹp thêm, làm tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn đường thở khi ngủ. Hậu quả gây ra tiếng ngáy khi ngủ và làm giảm độ bão hòa ôxy máu, sau đó là gây ngừng thở.
 
Khi sự hô hấp bị gián đoạn bởi sự tắc nghẽn của đường thở, cơ thể phản ứng lại bằng cách tự đánh thức đủ để bắt đầu cho việc thở trở lại. Sự đánh thức này có thể xảy ra hàng trăm lần mỗi đêm nhưng không đủ để làm thức tỉnh bệnh nhân ở mức độ ngủ nông (giai đoạn I, II). Do đó, họ vẫn không nhận biết tiếng ngáy của chính mình.
 
Sự ngạt thở và thở hổn hển có liên quan một cách đặc biệt với hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở. Những người bị hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở thường không có một giấc ngủ ngon, do sự ngưng thở lặp đi lặp lại và sự tự đánh thức làm bệnh nhân mất giai đoạn ngủ sâu (giai đoạn III, IV) và giai đoạn chuyển động mắt nhanh (rapid eye movement - REM), dẫn đến sự mệt mỏi cả ngày mạn tính và stress tim mạch lâu dài.
Các yếu tố bất thường về giải phẫu ở đường hô hấp trên và những tình trạng liên quan với hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở:
 
- Ngạt mũi
- Khẩu cái mềm và lưỡi gà quá lớn.
- Quá phát amiđan.
- Lưỡi lớn và đầy.
- Họng miệng và hạ họng hẹp do niêm mạc và mô dưới niêm mạc quá dày.
- Hàm nhỏ.
- Hàm đưa ra sau.
- Xương móng thấp hơn bình thường.
- Béo phì.
- Hội chứng Down.
- Suy giáp.
- Bệnh to cực.
- U, phẫu thuật ung thư và tia xạ ở mũi họng gây phù nề hoặc xơ sẹo.

Các yếu tố, nguy cơ:

• Béo phì:
- Tỷ lệ % SAS tăng gấp 3 lần khi tăng chỉ số khối cơ thể (body mass index - BMI).
- Kích thước cổ là một chỉ số tốt nhất đối với SA. 30% bệnh nhân nam ngáy ngủ. có kích thước cổ >43,2cm bị ngừng thở khi ngủ. Ở nữ, kích thước cổ >38cm là một yếu tố nguy cơ của SA.
• Bất thường giải phẫu đường hô hấp trên (phì đại amiđan, hàm nhỏ, hàm ra sau).
• Người thân của bệnh nhân ngừng thở khi ngủ có nguy cơ gần gấp đôi, kể cả không béo phì.
• Nhược giáp, mổ bướu giáp và tổn thương hệ cơ kiểm soát đường hô hấp.
• Nghiện rượu làm giảm trương lực cơ đường hô hấp trên.
• Thuốc an thần, thuốc gây nghiện làm giảm cơ chế thức tỉnh, khiến tăng thêm ngừng thở khi ngủ.
• Bệnh di truyền (hội chứng Down, hội chứng Apert,…).
• Rối loạn nội tiết: nhược giáp, to đầu chi.
• U, phẫu thuật ung thư và tia xạ ở mũi họng gây phù nề hoặc xơ sẹo.

Triệu chứng, biểu hiện:

Người mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ, dù loại nào, đều có các biểu hiện giống nhau:
- Hay ngủ gật ban ngày.
- Tỉnh giấc nhiều lần về đêm do thiếu ôxy. Đêm ngủ hay ngáy to, ngột ngạt, hay có vận động bất thường trong lúc ngủ.
- Nhức đầu buổi sáng.
- SaO2 giảm.
- Dần dần người bệnh ngừng thở khi ngủ có những thay đổi về cá tính, nhân cách, khả năng làm việc trí óc, quan hệ tình dục suy giảm.
- Khám có thể thấy bệnh nhân béo bệu, huyết áp cao, tăng hồng cầu. Trẻ em có amiđan to, VA phát triển.
- Bệnh ngừng thở khi ngủ kéo dài dẫn đến huyết áp tăng, nhịp tim chậm, rối loạn nhịp. Nếu có ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thì sẽ đưa bệnh nhân đến giai đoạn tâm phế mạn nhanh hơn.

Chẩn đoán bệnh:

Khai thác bệnh sử
 
Với những người nghi ngờ bị hội chứng ngừng thở khi ngủ, cần tập trung vào mức độ của tình trạng thiếu ngủ, kém hoạt động và những dấu chứng, triệu chứng nghi ngờ có liên quan đến rối loạn này. Ngủ ngáy và ngưng thở thấy được khi bệnh nhân ngủ là tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá.
 
Xác định ngủ ngáy liên tục, ngắt quãng hoặc chỉ ở một số tư thế là quan trọng. Hỏi người ngủ chung giường với bệnh nhân cũng là yếu tố giúp cho việc chẩn đoán.
 
Những trường hợp nhẹ hơn, biểu hiện tắc nghẽn đường thở xảy ra hầu như trong khi nằm ngửa, trong khi đó nằm nghiêng hoặc sấp thì không.
 
Những dấu hiệu khác bao gồm: tiền sử tăng cân, sử dụng thuốc, rượu hoặc các chất giảm đau khác và tiền sử về rối loạn giấc ngủ. Những vấn đề về tim mạch, tăng huyết áp, bệnh thần kinh cũng nên được xem xét chi tiết. đồng thời cũng cần đánh giá mức độ ngủ ngày, buồn ngủ trong khi làm việc, lái xe hay xảy ra tai nạn, thay đổi nhân cách, kém tập trung, rối loạn chức nãng tình dục. Xem xét thời gian của giấc ngủ, khởi phát ngủ và chất lượng ngủ là manh mối quan trọng.
 
Khám lâm sàng
 
Mục tiêu chính của khám lâm sàng là xem xét toàn bộ những yếu tố nghi ngờ về giải phẫu gây tắc nghẽn đường thở và ghi nhận những tổn thương tại chỗ để sửa chữa. Cấu trúc sọ mặt của bệnh nhân bị hội chứng ngừng thở khi ngủ là thông tin rất quan trọng. Ngạt mũi thường gặp do quá phát cuốn mũi cũng thường gặp ở những bệnh nhân ngừng thở khi ngủ. Thở miệng khi ngủ rất hay gặp. Tuy nhiên, không thể kết luận thở miệng là hoàn toàn do ngạt mũi.
 
Khám họng, hạ họng thường được các bác sĩ tai mũi họng quan tâm nhằm tìm kiếm những nếp niêm mạc thừa dày lên ở hạ họng, lưỡi gà và khẩu cái mềm, độ sâu và rộng của hạ họng, sự quá phát của amidal cũng được xem xét.
 
Hàm tụt ra sau, hàm nhỏ, lưỡi lớn có thể gặp.
Nội soi ống soi mềm có ích trong việc đánh giá đường thở của bệnh nhân ngừng thở khi ngủ.
Bệnh nhân có thể được chỉ định đo đa ký hô hấp hoặc đa ký giấc ngủ để xác định chính xác mức độ nặng nhẹ của bệnh
 
• Máy đa ký hô hấp giúp phát hiện các ca bị ngưng thở lúc ngủ mức độ trung bình nặng đến rất nặng. Bước đầu đánh giá mức độ ngưng thở lúc ngủ ở những ca trung bình trở xuống. Ưu thế tiện lợi, mang về ngủ tại nhà kết quả sẽ có nhanh hơn.
 
• Máy đa ký giấc ngủ giúp phát hiện các trường hợp ngưng thở tắc nghẽn lúc ngủ từ nhẹ đến nặng. Đánh giá được chất lượng giấc ngủ. Đánh giá các rối loạn tâm thần kinh trong lúc ngủ. Phát hiện các rối loạn cơ. Phát hiện các bất thường về điện não, điện tim trong lúc ngủ.
 
Hội chứng ngừng thở trong khi ngủ được chẩn đoán rất nhiều trong tai mũi họng. Nó gây ra nhiều ảnh hưởng đến đời sống. Vì vậy việc chẩn đoán sớm là rất quan trọng.
 
Các bạn có thể tự chẩn đoán hội chứng ngừng thở khi ngủ bằng việc trả lời những câu hỏi sau:
 
1. Bạn có ngáy to hay không, hoặc những người khác có kêu là bạn ngáy to không?
2. Hãy hỏi người ngủ cùng bạn xem khi ngủ bạn có lúc nào ngừng thở không?
3. Bạn có cảm thấy yếu hay mệt lúc sáng sớm dậy không?
4. Khi thức dậy buổi sáng bạn có hay bị đau đầu không?
5. Bạn có cảm thấy khả năng làm việc của bạn bị hạn chế không?
6. Bạn có cảm thấy khó tập trung được lâu không?
7. Bạn có hay buồn ngủ ban ngày không?
8. Bạn có ngủ gật ban ngày không, ví dụ lúc đi trên đường, khi xem tivi, khi đọc sách hoặc khi đang nói chuyện với người khác?
9. Bạn có khó ngủ vào buổi tối không?
10. Thỉnh thoảng bạn có bị đột nhiên tỉnh dậy ban đêm không?
11. Nếu có thì bạn có đi tiểu ban đêm không?
12. Sau đó bạn có khó ngủ lại không?
13. Bạn ngủ không yên giấc?
14. Bạn có thấy giường của bạn sáng ra bị nhàu nhĩ?
15. Thỉnh thoảng trong đêm bạn có toát mồ hôi và ngồi dậy không?
Nếu bạn trả lời từ 7/15 câu hỏi là 'có' trở lên, bạn nên đến khám tại phòng khám chuyên khoa để được tư vấn và điều trị kịp thời.

Phòng ngừa:

Để phòng bệnh, đơn giản nhất là thay đổi lối sống, giảm cân để có cân nặng vừa đủ. Tránh dùng các đồ uống kích thích như rượu 3 - 4 giờ trước khi đi ngủ. Vì đối với những người uống rượu, thời gian ngưng thở là 10 giây, lâu hơn những người không uống 3 lần. Số lần ngưng thở lặp đi lặp lại nhiều sẽ dẫn đến chứng cao huyết áp, suy tim.
 
Tránh uống thuốc ngủ và hạn chế nằm ở tư thế ngửa khi ngủ.
 
Nếu nghi ngờ mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ, bạn nên kiểm soát việc nằm nghiêng bằng cách gắn một quả bóng tennis vào giữa lưng áo ngủ để lúc ngủ say cũng không thể nằm ngửa được.

Điều trị:

1. Biện pháp chung: tránh rượu, thuốc an thần và gây nghiện
 
- Rượu làm giảm trương lực cơ giãn đường hô hấp trên và làm tăng độ nặng của ngáy và ngưng thở.
- Thuốc an thần và gây nghiện ức chế cơ chế tỉnh làm kéo dài thời gian ngưng thở và gây mất bão hòa O2 nặng hơn.
- Giảm cân làm giảm độ nặng của ngừng thở khi ngủ.
 
2. Các biện pháp có hiệu quả hạn chế
 
- Acetazolamide và medroxyprogesterone, cả hai làm tăng hoạt động hô hấp.
+ Acetazolamide có ích trong SA trung ương nhưng không hiệu quả trong ngừng thở khi ngủ.
+ Medroxyprogesterone có thể làm giảm PaCO2 trong hội chứng giảm thông khí nhưng không có vai trò trong ngừng thở khi ngủ.
- Protriptyline được dùng điều trị SAS do tăng trương lực đường hô hấp trên. Tác dụng phụ gồm khô miệng, táo bón, bí tiểu nên được dành cho một số trường hợp SAS có liên quan đến chuyển động mắt nhanh.
- O2: có vai trò hạn chế trong SAS.
O2 làm giảm sự mất bão hoà trong lúc ngưng thở nhưng không chấm dứt ngưng thở.
Cải thiện O2 máu nên làm trì hoãn ngưỡng tỉnh kéo dài ngưng thở. Bệnh nhân thất bại với các điều trị khác, O2 có thể có ích giúp ngăn ngừa các biến chứng tim mạch.
 
3. Điều trị đặc hiệu
 
- Tư thế
+ Ngưng thở xảy ra khi nằm ngửa mà không có khi nằm nghiêng.
+ Ngưng thở phụ thuộc tư thế được chẩn đoán bằng polysomnography với RDI cao khi nằm ngửa nhưng không có khi nằm nghiêng.
- CPAP
+ Là điều trị chọn lựa hiện nay: vì không xâm lấn, làm giảm số lần ngưng thở, giảm sự giảm thông khí trong lúc ngủ, giảm ngủ ngày, cải thiện chức năng thần kinh tâm thần ở bệnh nhân ngừng thở khi ngủ.
+ CPAP ngăn ngừa xẹp đường hô hấp trong lúc ngủ, khi cơ giãn đường hô hấp trên hoạt động yếu.
+ Áp lực CPAP tối ưu được xác định bởi nhà kỹ thuật trong khi đo polysomnography. 5 - 20 cmH2O là đủ giúp loại trừ ngưng thở, ngáy và mất bão hoà HbO2 ở mọi tư thế và trong giấc ngủ REM.
+ Điều quan trọng là tránh rò rỉ khí qua các khe hở.
+ Tác dụng bất lợi: kích thích mũi, viêm mũi, nuốt khí, chảy máu cam, viêm màng não, não ứ khí.
+ Thời gian sử dụng thường 4,5-5 giờ/đêm.
- BiPAP
Không hiệu quả gì hơn CPAP và được dành cho bệnh nhân không dung nạp CPAP, đặc biệt bệnh nhân khó thở ra hay đau ngực do căng phồng ngực quá mức.
- CPAP tự động
+ Tự điều chỉnh áp lực suốt đêm thay vì cung cấp một áp lực cố định.
+ Ý tưởng điểu chỉnh tự động CPAP dựa trên các yếu tố: sự thay đổi tư thế và giai đoạn giấc ngủ ảnh hưởng đến mức độ ngưng thở; rượu, thuốc an thần, nhiễm trùng hô hấp trên ảnh hưởng mức CPAP cần để chấm dứt ngưng thở.
+ Sử dụng áp lực trung bình trong CPAP tự động có thể làm giảm tác dụng phụ liên quan đến áp lực.
- Các thiết bị trong miệng
+ Biện pháp thay thế CPAP có hiệu quả, nhất là bệnh nhân hàm nhỏ, hàm ra sau.
+ Tác dụng phụ: chảy nước bọt, đau, chấn thương khớp thái dương hàm…
+ Một số bệnh nhân thích dùng thiết bị trong miệng hơn CPAP và thực tế trong SA nhẹ-vừa, đây là điều trị lựa chọn.
- Giải phẫu
+ Bệnh nhân không dung nạp điều trị nội khoa hay không muốn điều trị nội khoa lâu dài cần xem xét điều trị giải phẫu.
+ Điều trị giải phẫu ngừng thở khi ngủ:
- Giải phẫu mũi: tái tạo vách mũi, giải phẫu xoang
- Cắt Amydal
- Tạo hình lưỡi gà - vòm miệng - họng (Uvulopalatopharyngoplasty - UPPP)
- Tạo hình lưỡi gà - vòm miệng dưới sự hỗ trợ của laser
- Tái tạo lưỡi
- Mở khí quản
- Tạo hình cằm
- Nâng cằm-lưỡi bằng cắt cơ xương móng (Genioglossus advancememt with hyoid myotomy - GAHM)
- Cắt cơ nâng hàm trên-hàm dưới (Maxillomandibular advancement osteotomy)

Biến chứng:

Hậu quả của hội chứng ngưng thở khi ngủ được đánh giá qua các nghiên cứu lâm sàng cho thấy là khá nghiêm trọng, gây ra hoặc làm nặng thêm các bệnh lý mạn tính như tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch, đột quị, đái tháo đường týp 2, béo phì hay rối loạn chuyển hóa mỡ máu.
 
Điều trị hội chứng ngưng thở khi ngủ giúp cải thiện bệnh tật, phòng ngừa các biến chứng và nhất là cải thiện chất lượng cuộc sống.
 
1. Tăng huyết áp
 
40% bệnh nhân tăng huyết áp có kèm theo hội chứng ngưng thở khi ngủ. Tỷ lệ này tăng đến 80% ở những bệnh nhân phải dùng 3-4 thứ thuốc hạ huyết áp.
Hội chứng ngưng thở khi ngủ đã được chứng minh bằng các nghiên cứu lâm sàng, là nguy cơ của bệnh tăng huyết áp.
Điều trị hội chứng ngưng thở khi ngủ giúp làm giảm huyết áp, giảm số lượng thuốc huyết áp sử dụng, giảm nguy cơ bị các biến chứng tim mạch. Tuy nhiên điều trị bằng CPAP không thể thay thế hoàn toàn thuốc tim mạch.
 
2. Bệnh lý tim mạch
 
Bệnh nhân bị hội chứng ngưng ngưng thở khi ngủ có nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao hơn người bình thường 5 lần.
Hội chứng ngưng thở khi ngủ làm trái tim mệt mỏi, lâu dần chức năng của tim sẽ xấu đi. Hội chứng ngưng thở mức độ nặng sẽ có thể gây hậu quả là bệnh mạch vành, suy tim, rối loạn nhịp tim.
Điều trị hội chứng ngưng thở khi ngủ giúp bảo vệ trái tim và mạch máu.
 
3. Đột quỵ
 
60% bệnh nhân đột quị có kèm hội chứng ngưng thở khi ngủ.
Những bệnh nhân đột quị có kèm hội chứng ngưng thở khi ngủ sẽ khó hồi phục tốt giống như những bệnh nhân khác: quá trình hồi phục của bệnh nhân đột quị cần nhiều năng lượng để có thể tập vật lý trị liệu và điều trị phục hồi vùng não bị tổn thương . Việc này có thể gặp khó khăn do hội chứng ngưng thở khi ngủ khiến bệnh nhân mệt mỏi, buồn ngủ ban ngày.
Những bệnh nhân đột quị có kèm hội chứng ngưng thở khi ngủ không điều trị dễ chết sau đột quị hơn những bệnh nhân khác. Do đó, cần điều trị ngay hội chứng ngưng thở khi ngủ sau khi biết đột quị có kèm theo bệnh lý này.
 
4. Đái tháo đường
 
30-35% bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có kèm theo hội chứng ngưng thở khi ngủ.
Người mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ có nguy cơ bị bệnh đái tháo đường sau đó cao hơn những người khác.
Mặt khác, hội chứng ngưng thở khi ngủ làm nặng hơn bệnh đái tháo đường ở những bệnh nhân đã mắc bệnh này. Điều trị hội chứng ngưng thở làm cải thiện bệnh đái tháo đường, đặc biệt trên bệnh nhân có kèm béo phì.
Nếu bạn bệnh đái tháo đường và có nghi ngờ mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ, liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn thêm. Điều trị hội chứng ngưng thở khi ngủ cải thiện được bệnh đái tháo đường – một yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch.
 
5. Béo phì
 
40% bệnh nhân béo phì có kèm theo hội chứng ngưng thở khi ngủ.
Nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng, thiếu ngủ và hội chứng ngưng thở khi ngủ gây tăng cân theo thời gian. Cơ chế là do tăng một số nội tiết tố gây thèm ăn do các rối loạn của hội chứng ngưng thở khi ngủ gây ra. Ngược lại, béo phì đặt biệt là béo bụng cũng là nguyên nhân của hội chứng ngưng thở khi ngủ, làm nặng thêm hội chứng ngưng thở khi ngủ vốn có do tình trạng ứ mỡ trong các tạng trong ổ bụng.

Chế độ chăm sóc:

Theo nghiên cứu, chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải kết hợp với hoạt động thể chất có thể giúp cải thiện một số triệu chứng ngừng thở khi ngủ.
 
Được công bố trên tạp chí European Respiratory Journal, nghiên cứu này đã xem xét tác động của chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải ở những người béo phì bị ngừng thở khi ngủ so với những người có chế độ ăn khôn ngoan.
 
Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Crete ở Hy Lạp đã xem xét 40 bệnh nhân béo phì bị ngừng thở khi ngủ. 20 bệnh nhân thực hiện chế độ ăn khôn ngoan trong khi 20 bệnh nhân còn lại tuân thủ chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải.
 
Cả hai nhóm đều được khuyến khích hoạt động thể chất, chủ yếu là đi bộ ít nhất 30 phút/ngày và đều được áp dụng liệu pháp áp lực đường thở dương liên tục (CPAP). Các nhà nghiên cứu đã theo dõi một số chỉ báo về ngừng thở khi ngủ bao gồm hoạt động điện ở não, cử động mắt và ngáy. Họ cũng kiểm tra những bệnh nhân này tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu và kiểm tra lại sau đó 6 tháng.
 
Kết quả cho thấy những người thực hiện chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải giảm số rối loạn, được biết là ngưng thở, trong giai đoạn ngủ cử động mắt nhanh (REM), thường chiếm khoảng 25% tổng giấc ngủ đêm. Những người thực hiện chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải cũng tuân thủ tốt hơn với chế độ ăn hạn chế calo, tăng hoạt động thể chất và giảm mỡ bụng tốt hơn.
 
Các kết quả của nghiên cứu nhỏ này cho thấy những cải thiện trong một giai đoạn ngủ ở những người bị ngừng thở khi ngủ, tuy nhiên không cho thấy mức cải thiện chung về độ nặng của bệnh.

Bài thuốc dân gian: