Bệnh gout

14/11/2016 09:47:30
Bệnh GOUT , dân gian còn gọi là bệnh thống phong.
 
Bệnh GOUT , dân gian còn gọi là bệnh thống phong, là một bệnh khớp sinh ra do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, dẫn đến tăng acid uric máu. Khi acid uric máu tăng đến một mức nào đó (mức độ này thay đổi ở từng cá thể), chúng sẽ bị bão hòa ở dịch ngoài tế bào dẫn đến lắng đọng tại các mô, khớp, thận, gây nên các triệu chứng của bệnh gút trên lâm sàng Bệnh thường gặp ở nam giới tuổi trung niên, đặc biệt là ởnhững người béo, ưa uống rượu, ăn chế độ nhiều đạm.
 

Nguyên nhân:

Có hai nhóm nguyên nhân lớn của bệnh gout là goút nguyên phát và gút thứ phát
- Gout nguyên phát là thể bệnh gặp nhiều nhất, có tính chất di truyền và mang tính gia đình. 
- Gout thứ phát có nguyên nhân do tăng acid uric máu thứ phát, gây nên bởi một số bệnh như bệnh thận, bệnh máu, do sử dụng một số thuốc, hay do nhiễm độc chì. Có 5 yếu tố thuận lợi gây bệnh chính:
+ Yếu tố gia đình. Có tới 30% bệnh nhân gút có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. 
+ Yếu tố nghề nghiệp. Đa số bệnh nhân là trí thức, thương gia, chủ doanh nghiệp.
+ Tật nghiện bia rượu.
+ Rối loạn chuyển hóa khác như tăng acid uric máu, tăng đường máu, tăng mỡ máu.
+ Tiền sử dùng một số thuốc làm tăng acid uric máu như thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin, thuốc chống lao.
 
 

Các yếu tố, nguy cơ:

Những yếu tố dưới đâu có thể khiến cơ thể bạn bị đa axit uric hoặc làm khớp dễ bị đóng axit uric:
- Nam (40-50 tuổi); nữ sau mãn kinh 
- Tiền sử gia đình bị bệnh gout (nguy cơ 20%)
- Cơ thể thường bị mất nước
- Tổn thương khớp
- Xơ vữa động mạch
- Bệnh tim
- Tiểu đường
- Cao cholesterol (mỡ trong máu)
- Hẹp động mạch
 

Triệu chứng, biểu hiện:

- Ở giai đoạn đầu, bệnh gout có những đặc điểm lâm sàng khá đặc trưng, đa số dễ nhận biết như:
+ Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp.
+ Thường bắt đầu vào cuối độ tuổi 30 và đầu độ tuổi 40, tuổi bắt đầu làm nên của những người đàn ông thành đạt.
+ Khởi bệnh đột ngột bằng một cơn viêm khớp cấp với tính chất: sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội, đột ngột ở một khớp làm người bệnh rất đau đớn, không thể đi lại được. Hiện tượng viêm thường không đối xứng và có thể tự khỏi sau 3-7 ngày.
- Trong giai đoạn cấp có thể kèm các dấu hiệu toàn thân như: sốt cao, lạnh run, đôi khi có dấu màng não (cổ cứng, nôn ói…).
- Bệnh diễn biến từng đợt, giữa các cơn viêm cấp có những giai đoạn các khớp hoàn toàn hết đau, người bệnh tưởng mình khỏi bệnh.
- Ở giai đoạn muộn, biểu hiện viêm ở nhiều khớp cả tay và chân, có thể đối xứng, xuất hiện những u cục ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp, bệnh diễn biến liên miên không rõ từng đợt, giữa các đợt viêm cấp các khớp vẫn đau nhức, dần dần gây biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ... hoàn toàn khỏi (những năm đầu).
 
 

Chẩn đoán bệnh:

- Chú ý đến đối tượng và lứa tuổi hay mắc bệnh: Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Tuyệt đại đa số các bệnh nhân gút là nam giới. Nam dễ bị bệnh, có thể do lối sống, chế độ ăn uống (rượu, bia) và vấn đề di truyền. Về tuổi: bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 40-60. Ở nữ giới bệnh thường xảy ra sau thời kỳ mãn kinh.
- Để phát hiện sớm được bệnh gút, cần chú ý đến 3 biểu hiện lâm sàng chính của bệnh gồm các tổn thương khớp, xuất hiện hạt tophi và tổn thương thận. Biểu hiện đặc trưng đầu tiên của bệnh gút là các viêm khớp cấp tính do gout.
 
 

Phòng ngừa:

- Có thể phòng tránh được bệnh gút bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Vì ăn uống bừa bãi là một yếu tố thúc đẩy làm xuất hiện bệnh và làm bệnh tái phát. Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gút là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân (nếu béo phì) và uống nhiều nước (khoảng 1,5-2 lít nước/ngày), đặc biệt là nước khoáng kiềm (để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu).
+ Thứ nhất, lượng thịt ăn hằng ngày không nên quá 15g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi...), các loại thịt đỏ (thịt trâu, bò, chó, dê), các loại hải sản (tôm, cua, cá béo). Có thể ăn trứng, sữa, phomat, thịt trắng như  thịt gia cầm,  cá nạc.
+ Thứ hai là nên ăn thêm ngũ cốc, bánh mì trắng.
+ Thứ ba là ăn nhiều rau xanh, cà rốt, bắp cải, đậu phụ, hoa quả.
+ Thứ  tư là cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua, uống nước chanh... vì chính những chất chua lại làm bệnh nặng hơn.
+ Thứ năm là về các đồ uống. Bệnh nhân cần bỏ rượu, kể cả rượu vang, rượu thuốc.
- Bệnh nhân gút cần có chế độ sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mọi mỏi mệt cả về tinh thần lẫn thể chất như  tránh lạnh, lao động quá mức, chấn thương, stress... Ngoài ra, bệnh nhân gút cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng acid uric máu như các thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin.
 
 

Điều trị:

Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị tận gốc bệnh gút. Mọi nỗ lực chỉ nhằm mục đích khống chế cảm giác đau đớn và hạn chế nguy cơ tái phát. Bệnh nhân được điều trị gút bằng thuốc chống viêm NSAID và corticosteroid, có thể cảm nhận những dấu hiệu tích cực sau khoảng 12 giờ. Tuy vậy, không nên coi thuốc là “thần dược”. Để cải thiện bệnh, cần có chế độ ăn uống khoa học và tập luyện đều đặn. Tuy nhiên hãy cẩn thận với các thuốc này và tham vấn ý kiến bác sĩ của bạn cụ thể cách dùng và thời gian dùng (thường chỉ nên dùng từ 3-10 ngày), vì nếu điều trị kéo dài chúng có thể gây các biến chứng như viêm loét và xuất huyết dạ dày - tá tràng.
Ngoài ra, 2 mẹo nhỏ dưới đây cũng giúp người bệnh gút giảm cảm giác đau đớn:
- Chườm đá: Theo các chuyên gia thuộc Đại học Y New Jersey, dùng đá chườm trực tiếp hoặc cho vào túi chườm đắp lên vùng khớp bị sưng viêm khoảng 10-15 phút được coi là giải pháp có tác dụng làm giảm cảm giác đau đớn.
- Ngâm chân bằng nước ấm có pha chút muối biển: Phương pháp này rất có lợi với người bệnh gút. Người ta tìm thấy trong muối biển một hàm lượng lớn chất magie. Việc bổ sung magie rất có lợi cho tim mạch, kích thích lưu thông máu, giúp thải loại độc tố.
 
 

Biến chứng:

Khi bị mắc bệnh mà điều trị không đúng hoặc không được điều trị bệnh để lại những biến chứng, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề, thậm chí tử vong:
- Tổn thương xương khớp: Đó là tình trạng hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tôphi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết. 
- Tổn thương thận như sỏi thận, thận ứ nước ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim... 
- Chẩn đoán nhầm: Bệnh dễ bị chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn hoặc viêm khớp dạng thấp và được điều trị bằng rất nhiều loại kháng sinh khác nhau, có nguy cơ bị biến chứng lao, loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp... thậm chí có thể gây tử vong. 
- Tai biến do dùng thuốc:ngay cả khi chẩn đoán đúng, việc điều trị gút cũng có thể gây nên tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng.
 
 

Chế độ chăm sóc:

Vì béo phì có thể liên quan đếnmức axit uric cao, bác sĩ thường chỉ định chế độ ăn uống đặc biệt để giúp giảm / kiểm soát trọng lượng cơ thể. Nhưng kiêng cữ hay áp dụng chế độ ăn uống quá nghiêm nhặt có thể nâng mức axit uric và làm bệnh gout tệ thêm.
Đa số bệnh nhân gout có thể ăn những gì mình thích, trong giới hạn. Những người bị sỏi thận do axit uric có thể cần tránh hay giới hạn những thực phẩm (có nhiều purin) làm tăng mức axit uric như: cá mòi, cá cơm, cá trích, sò ốc (như: paua, pipi, hến, trai), trứng cá, sò điệp, nước hầm xương, nước sốt (lấy từ lò nướng), óc, cật, gan, tim, lưỡi, bao tử, phèo/lá lách, và thịt đỏ (như thịt bò/cừu; nhất là thịt quay/ nướng); măng tây, nấm, đậu Hòa lan, đậu lentil, và đậu ve. Hầu hết mọi người mỗi ngày chỉ nên ăn khoảng 150-200g thịt nạc heo/bò, thịt gà, hay cá. Những bệnh nhân gout có thể uống cà phê và trà, nhưng cần phải giới hạn mức cồn (nhất là bia và rượu). Để tống các tinh thể axit uric ra khỏi cơ thể, bệnh nhân gout nên uống mỗi ngày ít nhất 10-12 ly nước lã hay nước giải khát không cồn (loại ly thấp ¼ lít).
 
 

Bài thuốc dân gian: