Bướu cổ

14/11/2016 09:47:33

Bướu cổ thường không đau nhưng gây khó khăn khi nuốt và gây ho.

Tuyến giáp là một tuyến có hình dạng như con bướm nằm ở đáy cổ. Nếu tuyến giáp phát triển có mức sẽ dẫn tới bướu cổ. Bướu cổ thường không đau nhưng gây khó khăn khi nuốt và gây ho.
 
Trong một số trường hợp bướu cổ là một vấn đề tạm thời sẽ tự khỏi theo thời gian mà không cần can thiệp y tế. Tuy nhiên, nó cũng có thể trở nên nghiêm trọng cần được chăm sóc và theo dõi cẩn trọng.
 

Nguyên nhân:

- Nguyên nhân dẫn đến bệnh bướu cổ chủ yếu do thiếu hụt I-ốt trong cơ thể nhưng không phải cứ bổ sung đủ I-ốt là bệnh sẽ khỏi. Bướu cổ thực chất là căn bệnh rất khó chữa trị vì tác nhân của nó liên quan đến hệ thần kinh. Bình thường, cơ thể con người thu nhận một số I-ốt vô cơ vào dinh dưỡng cho tuyến giáp trạng. Vì một lý do nào đó, tuyến giáp trạng không nhận được đầy đủ hàm lượng I-ốt nên đã tạo thành kích thích tố tuyến giáp trạng dẫn đến hiện tượng sự bài tiết sẽ tụt giảm. Vì nguyên nhân này, tuyến giáp trạng phải tăng thêm kích thước để sản xuất hoóc-môn, biến thành sưng to, gọi là bướu ở cổ.
 
- Rối loạn bẩm sinh, rối loạn này có tính chất gia đình.
 
- Do dùng thuốc và thức ăn: do dùng kéo dài một số loại thuốc như: muối Lithium (dùng trong chuyên khoa tâm thần), thuốc kháng giáp tổng hợp, thuốc có chứa I - ốt như: thuốc cản quang, thuốc trị hen, thấp, khớp, chống loạn nhịp v.v…Do ăn nhiều thức ăn ức chế tổng hợp hoóc-môn giáp như các loại rau họ cải, măng , sắn,…
 
- Ngoài ra, những phụ nữ bị kích thích thần kinh trong thời kỳ phát triển hoặc có thai và cho con bú cũng dễ bị nguy cơ bướu cổ. Vì vậy phương pháp tốt nhất để phòng ngừa vẫn là bổ sung đầy đủ vi lượng i-ốt cho bữa ăn hàng ngày. Nếu đã có dấu hiệu sưng to nên đến bác sĩ chuyên khoa hoặc viện để xạ trị hay giải phẫu.

Các yếu tố, nguy cơ:

Bướu giáp có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai. Có thể có mặt khi sinh và xảy ra bất cứ lúc nào trong suốt cuộc đời, mặc dù phổ biến hơn sau tuổi 50. Một số yếu tố nguy cơ phổ biến cho các bệnh bướu cổ bao gồm:
 
- Chế độ ăn uống thiếu iốt. Những người sống ở những nơi có iốt thiếu và những người không có quyền truy cập vào iốt bổ sung có nguy cơ cao của bệnh bướu cổ.
 
- Giới tính. Bởi vì phụ nữ dễ bị rối loạn tuyến giáp hơn so với nam giới, họ cũng nhiều khả năng để phát triển bướu giáp.
 
- Tuổi. 50 tuổi trở lên sẽ đặt vào nguy cơ cao hơn.
 
- Lịch sử y tế. Một lịch sử cá nhân hay gia đình của bệnh tự miễn dịch làm tăng nguy cơ.
 
- Mang thai và thời kỳ mãn kinh. Vì những lý do không hoàn toàn rõ ràng, vấn đề về tuyến giáp có nhiều khả năng xảy ra sau khi mang thai và thời kỳ mãn kinh.
 
- Một số loại thuốc. Một số phương pháp điều trị y tế, bao gồm ức chế miễn dịch, thuốc kháng virus, thuốc tim amiodarone và thuốc lithium tâm thần, làm tăng nguy cơ.
 
- Phơi nhiễm bức xạ. Nguy cơ gia tăng nếu đã có phương pháp điều trị phóng xạ cổ hoặc vùng ngực hoặc đã tiếp xúc với bức xạ trong một thử nghiệm hạt nhân, cơ sở hay tai nạn.

Triệu chứng, biểu hiện:

- Bướu giáp đơn thuần thường khó phát hiện vì không có nhiều triệu chứng rõ ràng, ngoài một số biểu hiện như cổ to ra, một số bệnh nhân có cảm giác nghèn nghẹn ở cổ, thường được người khác phát hiện, hoặc đi khám sức khỏe.
 
- Một số bệnh nhân có biểu hiện nhược giáp: mệt mỏi, đau cơ, táo bón, rụng tóc, nói khàn, chán ăn, giảm trí nhớ; Vùng cổ có một hoặc nhiều cục bất thường di động theo nhịp nuốt; Cảm giác nghẹn, tức ở cổ, nhất là khi nuốt…Bởi vậy, khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ, người bệnh cần đến các Trung tâm y tế hoặc Bệnh viện chuyên khoa để khám và điều trị kịp thời.

Chẩn đoán bệnh:

Phòng ngừa:

- Để phòng tránh bướu cổ, việc ăn uống rất quan trọng, nhất là ăn đầy đủ chất iốt là điều cần thiết cho tất cả mọi người, đặc biệt là ở những nơi xa biển.
 
- Khi bị bướu cổ, cần tránh những thực phẩm như bắp cải, củ cải, đậu nành vì những thực phẩm này làm cản trở sự hấp thu iốt.

Điều trị:

- Tốt nhất là đi khám bác sĩ chuyên khoa nội tiết để được theo dõi và điều trị chu đáo. Nhất là cần xác định rõ bướu cổ có kèm theo các triệu chứng cường giáp hay thiểu năng giáp để điều trị kịp thời.
 
- Điều trị bệnh tuyến giáp đơn thuần thể nhẹ thì dùng thuốc nhưng với trường hợp khi bướu cổ đã to, ảnh hưởng đến thẩm mỹ, bướu cổ điều trị nội khoa thất bại, bướu cổ có chèn ép vào các cơ quan lân cận gây đau đầu, khó thở, khó nuốt... thì nên phẫu thuật.

Biến chứng:

Bạn không cần phải lo lắng nếu bướu cổ nhỏ và không gây ra vấn đề về thể chất hoặc thẩm mỹ. Nhưng bướu giáp lớn có thể làm cho khó thở hoặc nuốt và có thể gây ho và khàn tiếng. Bướu giáp là kết quả của các điều kiện khác, chẳng hạn nhưsuy giáp hoặc cường giáp, có thể được liên kết với một số triệu chứng từ mệt mỏi và tăng cân đến giảm cân ngoài ý muốn, khó chịu và khó ngủ.

Chế độ chăm sóc:

Nếu bạn bị bướu cổ do thiếu i-ốt, hãy lưu ý 2 vấn đề sau:
 
- Nhận đủ iốt: Để đảm bảo rằng có đủ iốt, sử dụng muối I-ốt hoặc ăn hải sản hoặc rong biển, sushi là một nguồn rong biển tốt, khoảng hai lần một tuần. Tôm và tôm cua khác đặc biệt cao iốt. Nếu sống gần bờ biển, trái cây và rau cải trồng tại địa phương có khả năng chứa một số i-ốt, cũng như sữa bò và sữa chua. Mọi người cần khoảng 150 microgram iốt / ngày, nhưng số đầy đủ là đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ mang thai và cho con bú và cho trẻ sơ sinh và trẻ em.
 
- Giảm tiêu thụ i-ốt:Mặc dù không phổ biến, lấy iốt quá nhiều đôi khi dẫn đến bệnh bướu cổ. Nếu vượt quá iốt là một vấn đề, tránh muối củng cố bằng iốt, đồ biển, rong biển, bổ sung iốt.

Bài thuốc dân gian:


Tra cứu bệnh