Hạ đường huyết

14/11/2016 09:47:33
Hạ đường huyết là khi nồng độ đường glucose trong máu giảm xuống dưới 4mmol/l, không đủ cho cơ thể hoạt động. Hạ đường huyết hiếm gặp ở người bình thường nhưng kh&aa
Hạ đường huyết là khi nồng độ đường glucose trong máu giảm xuống dưới 4mmol/l, không đủ cho cơ thể hoạt động. Hạ đường huyết hiếm gặp ở người bình thường nhưng khá phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ), chủ yếu là do biến chứng của điều trị.
 
Đây là chứng bệnh ảnh hưởng rất lớn đến các chức năng và hoạt động của cơ thể con người, có thể gây ra nhiều rối loạn cho sức khoẻ, thậm chí là rất nguy hiểm, nó còn nguy hiểm hơn tăng đường huyết và có thể gây tử vong nhanh chóng.
 

Nguyên nhân:

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc đường huyết bị hạ thấp:
 
- Nguyên nhân biết được gồm: bị lả do đói; người ốm nặng, lâu ngày không ăn được; mắc bệnh ung thư, bệnh đường ruột, bệnh gan, bệnh nội tiết.
 
- Bệnh tuyến nội tiết: u tuyến tụy ở các đảo Langerhans, có một u (chiếm 80%) hay nhiều u, u lành tính hay ác tính, bài tiết ra insulin.
 
- Bệnh nhân bị u tụy tạng có triệu chứng rất nặng, thường xảy ra cơn hôn mê, co giật. Bệnh nhân phải ăn luôn miệng nên bị chứng béo phì.
 
- Bệnh của một số tuyến nội tiết khác như giảm năng thùy trước tuyến yên, giảm năng tuyến thượng thận.
 
- Do tăng insulin đột ngột: ở người sau cắt dạ dày (hội chứng Dumping), sau gắng sức, sau cho con bú.
 
- Người đang điều trị bệnh tiểu đường, bị hạ đường huyết xuất hiện 1-2 giờ sau khi tiêm insulin.
 
- Các trường hợp không biết được nguyên nhân (chiếm khoảng 70%), triệu chứng thường nhẹ.

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Tùy từng thể nặng nhẹ mà bệnh nhân hạ đường huyết có những biểu hiện khác nhau:
 
Thể nhẹ:
 
- Thường bệnh nhân không chịu được đói, người run, chân tay bủn rủn, vã mồ hôi, chóng mặt, tim đập nhanh, đánh trống ngực, lờ đờ, buồn ngủ.
 
- Trong thực tế, người ta cũng thường gặp những công nhân do làm việc nặng nhọc, căng thẳng nên vào cuối giờ lao động, người mệt mỏi, làm việc kém năng suất, có dấu hiệu của hạ đường huyết thể nhẹ và hay xảy ra tai nạn lao động.
 
- Nếu được uống nước đường hay thức ăn ngọt, các triệu chứng trên sẽ hết.
 
Thể vừa:
 
- Có trường hợp rối loạn tinh thần, có cơn thao cuồng, sầu uất, ủ rũ, mất phương hướng, đôi khi xuất hiện cơn co giật như động kinh, nhìn đôi, luôn ủ rũ và tính dễ bị kích động.
 
- Có người bị liệt nửa người, nhưng thường chỉ vài phút, vài giờ là khỏi hẳn.
 
- Cũng có trường hợp buồn nôn, đôi khi đau bụng, ngất.
 
Thể nặng:
 
- Hôn mê xảy ra đột ngột, hôn mê sâu, co cơ hàm hoặc cơn co giật toàn thân, có khi liệt nửa thân. Nhiệt độ giảm. Có trường hợp tự nhiên tỉnh dần trong vài giờ hay vài ngày. Nếu tiêm glucoza thì khỏi nhanh hơn.
 
- Có trường hợp tử vong vì trụy tim mạch trong các cơn nặng.
 
- Điều đặc biệt trong chứng hạ đường huyết tự phát là cơn xảy ra lúc đói, rất đúng giờ, giống nhau, hay bị đi bị lại nhiều lần. Nếu lấy máu làm xét nghiệm, thấy đường huyết hạ.
 
- Nhưng nhìn chung, những biểu hiện rõ ràng và dễ nhận thấy được vẫn là mệt đột ngột không giải thích được; đau đầu, chóng mặt lả đi; cảm giác đói cồn cào; vã mồ hôi; tê buồn chân tay; chân có cảm giác nặng; lo lắng bứt rứt; run tay; hồi hộp, tim đập nhanh; có khi buồn nôn và nôn.

Chẩn đoán bệnh:

Xét nghiệm và thăm dò chức năng
 
- Nồng độ glucose máu thấp < 2,8 mmol/L (50 mg/dL), khi nồng độ glucose máu thấp < 1,7 mmol/L (30 mg/dL) thì được gọi là hạ đường máu nặng.
 
Xét nghiệm đường máu mao mạch là một biện pháp sàng lọc nhanh để xác đinh nồng độ glucose máu. Tuy nhiên, hầu hết các loại máy đo đường máu mao mạch thường không thể phát hiện được nồng độ glucose máu < 2,2 mmol/L (40 mg/dL), cho nên vẫn cần phải lấy mẫu máu tĩnh mạch làm xét nghiệm định lượng nồng độ glucose máu.
 
- Xét nghiệm tìm kiếm các nguyên nhân gây hạ đường máu như nhiễm trùng/nhiễm khuẩn, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, rối loạn chức năng/suy thận, uống rượu, có thai, dùng thuốc (đặc biệt là các thuốc kích thích), các chấn thương kín, suy nhược (có thể làm ăn uống kém hoặc quá liều insulin/thuốc uống hạ đường máu), các bệnh lý nội tiết khác (bệnh Addison, suy giáp, cường giáp, suy tuyến yên).
 
Bệnh nhân đái tháo đường được điều trị bằng insulin hoặc các thuốc kích thích bài tiết insulin, các tác động bảo vệ nhằm dự phòng hạ đường máu sẽ bắt đầu khi cơ chế tự theo dõi phát hiện nồng độ glucose máu < 3,9 mmol/L (70 mg/dL). Do đó khả năng có hạ đường máu là rất cao ở những bệnh nhân này.
 
Mặt khác, khả năng có hạ đường máu rất thấp ở những người không có đái tháo đường được điều trị thuốc. Ở những người không bị đái tháo đường, biểu hiện rối loạn hạ đường máu không thể đơn thuần chỉ dựa vào nồng độ glucose máu thấp. Rối loạn hạ đường máu chỉ có thể được chẩn đoán khi có đầy đủ các bằng chứng chứng minh.
 
Hạ đường máu ở bệnh nhân có đái tháo đường:
 
- Có thể có các triệu chứng lâm sàng của hạ đường máu: triệu chứng kích thích thần kinh và/hoặc thiếu glucose não.
 
- Nồng độ glucose máu thấp < 2,8 mmol/L (50 mg/dL).
 
- Hạ đường máu ở bệnh nhân không bị đái tháo đường:
 
- Phải có đủ 3 tiêu chuẩn chẩn đoán hạ đường máu đã được chứng minh trong nghiên cứu Whipple.
 
- Có triệu chứng lâm sàng của hạ đường máu: kích thích thần kinh, thiếu glucose não.
 
- Nồng độ glucose máu thấp < 2,8 mmol/L (50 mg/dL) tại thời điểm triệu chứng lâm sàng của hạ đường máu xuất hiện.
 
- Các triệu chứng lâm sàng của hạ đường máu cải thiện sau khi bổ sung glucose.

Phòng ngừa:

- Luôn có một bữa sáng chất lượng để cung cấp năng lượng cho 1 ngày. Lưu ý là hạn chế ăn ngũ cốc đóng gói mà hãy ăn bánh mỳ với chút hoa quả hay nước quả.
 
- Ăn ít, chia thành nhiều bữa, không nên để khoảng cách giữa 2 bữa quá 3 giờ. Năng lượng hạ vào buổi chiều có thể làm giảm đường huyết. Bạn có thể tránh tình trạng này bằng cách ăn ít và thường xuyên nhấm nháp các loại snack mà mức độ hấp thụ đường giảm.
 
- Ăn các loại tinh bột - đường phức trong mỗi bữa ăn: bao gồm bánh mỳ làm từ ngũ cốc nguyên cám, mỳ, gạo, lúa mạch…
 
- Ăn các loại quả ngọt có thể gây phá hoại hệ thống. Pha nước quả với nước theo tỉ 50/50. Nếu bạn phải uống các đồ uống có chất kích thích như trà, cà phê, sô-cô-la và đồ uống hộp thì hãy uống sau bữa ăn và không bao giờ uống khi dạ dày rỗng.
 
- Luôn bổ sung các bữa phụ bằng các thực phẩm giàu protein như ăn 1 quả táo cùng với hạnh nhân; ăn cần tây, cà-rốt hay súp lơ xanh, sữa chua với các loại hạt hay quả tươi với 1/2 thìa hạt bí hay hạt hướng dương và 1/2 quả bơ với 1 cái bánh lúa mạch, hạt hướng dương.

Điều trị:

- Luôn luôn có sẵn đường hoặc các sản phẩm có đường như kẹo, bánh, sôcôla, nước ngọt có đường... trong túi, trong cặp, để lúc xảy ra hạ đường huyết là có thể dùng ngay. Hạ đường huyết nhẹ thì dùng ngay bánh, hoa quả, sữa... hoặc bất cứ đồ ăn nào có sẵn trong nhà.
 
- Nếu hạ đường huyết do bệnh tiểu đường thì nên tuân theo lời chỉ dẫn của thầy thuốc trong việc dùng thuốc và ăn uống hằng ngày.
 
- Không bỏ bữa ăn, ăn đủ lượng cacbonhydrat, ăn thêm bữa phụ, ăn nhiều rau...
 
- Nên tập thể dục thường xuyên và đúng bài bản.
 
- Đối với người bị bệnh tiểu đường, cần tiêm hay cho bệnh nhân uống glucoza, tuy nhiên có rất nhiều nguyên nhân khó phát hiện. Chất insulin do tuyến tụy tiết ra có tác dụng điều hòa đường huyết.
 
- Trường hợp do u tuyến tụy gọi là hạ đường huyết tự phát. Bệnh này có thể điều trị khỏi hẳn nếu được phẫu thuật cắt bỏ khối u.

Biến chứng:

Nếu bỏ qua các triệu chứng của hạ đường huyết quá lâu, có thể mất ý thức. Đó là vì não cần glucose để hoạt động.
 
Các triệu chứng của hạ đường huyết không được điều trị sớm có thể dẫn đến:
 
- Co giật.
- Mất ý thức.
- Tử vong.
 
Mặt khác, nếu bị tiểu đường, phải cẩn thận không để tăng quá mức lượng đường trong máu. Điều này cũng có thể nguy hiểm và có thể gây tổn thương hệ thần kinh, mạch máu và các cơ quan khác.

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian:


Tra cứu bệnh