Rong kinh

14/11/2016 09:47:51

Rong kinh là tình trạng kinh nguyệt kéo dài nhiều ngày. 

- Rong kinh là tình trạng kinh nguyệt kéo dài nhiều ngày. Bình thường, mỗi kỳ kinh chỉ ra máu trong khoảng 7 ngày trở lại, khi thấy kinh trên 7 ngày thì gọi là rong kinh.
 
- Rong kinh là một trong những vấn đề thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (tăng theo tuổi) và thường gây ra thiếu máu.
 

Nguyên nhân:

1. Rong kinh cơ năng
 
- Ở những người mới bắt đầu có kinh, do hoạt động của buống trứng chưa ổn định nên gây rong kinh. Thường sau khoảng 2 năm thì hết.  
 
-  Một số trường hợp do sử dụng thuốc tránh thai đặc biệt là thuốc tránh thai khẩn cấp.
 
2. Rong kinh thực thể
 
- Do sảy thai, chửa trứng, thai chết lưu.
 
- Do tổn thương ở tử cung hoặc buồng trứng như: u xơ tử cung, viêm nội mạc tử cung, polyp tử cung, buồng trứng đa nang, ung thư cổ tử cung, ung thư nội mạc tử cung...
 
-  Do mắc các bệnh lý toàn thân (rối loạn đông máu, bệnh bướu giáp)…

Các yếu tố, nguy cơ:

- Phụ nữ trẻ rụng trứng không đều rất dễ bị rong kinh trong 12-18 tháng đầu kể từ lần có kinh đầu tiên.
 
- Phụ nữ sắp mãn kinh thường mất cân bằng hormon có thể gây rong kinh.
 
- Người bị rối loạn chảy máu di truyền.

Triệu chứng, biểu hiện:

Các dấu hiệu và triệu chứng của rong kinh bao gồm:
 
- Lượng kinh thấm qua một hoặc nhiều miếng băng vệ sinh mỗi giờ trong một vài giờ liên tiếp.
 
- Cần dùng băng vệ sinh kép để kiểm soát lượng kinh.
 
- Cần thay băng vệ sinh trong đêm.
 
- Thời gian có kinh kéo dài hơn 7 ngày.
 
- Kinh nguyệt có các cục máu lớn.
 
- Lượng kinh nhiều gây trở ngại cho cuộc sống hằng ngày của bạn.
 
- Đau liên tục vùng bụng dưới trong thời gian có kinh.
 
- Chu kỳ kinh không đều.
 
- Mệt mỏi hoặc thở gấp (triệu chứng của thiếu máu)

Chẩn đoán bệnh:

Bác sĩ hay hỏi nhất về tiền sử bệnh tật và chu kỳ kinh của bạn. Bạn có thể kể về lịch trình những ngày chảy máu và không chảy máu bao gồm lượng kinh nhiều thế nào và bạn cần bao nhiêu băng vệ sinh để thấm nó. Bác sĩ sẽ khám thực thể và có thể khuyên làm 1 hoặc nhiều xét nghiệm hay các thủ thuật như:
 
- Xét nghiệm máu. Mẫu máu đánh giá những bất thường do mất quá nhiều máu trong thời kỳ có kinh.
 
- Xét nghiệm Pap. Bác sĩ lấy tế bào cổ tử cung để soi kính hiển vi nhằm phát hiện nhiễm trùng, viêm hoặc những thay đổi có thể là ung thư hoặc có thể dẫn đến ung thư.
 
- Sinh thiết nội mạc tử cung. Bác sĩ lấy mẫu mô trong tử cung để soi kính hiển vi.
 
- Siêu âm. Phương pháp này dùng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh tử cung, buồng trứng và tiểu khung.
 
- Chụp siêu âm tử cung. Phương pháp chụp siêu âm này được thực hiện sau khi bơm nước qua một ống vào trong tử cung qua đường âm đạo và cổ tử cung. Phương pháp này cho phép bác sĩ tìm những bất thường trong nội mạc tử cung.
 
- Soi tử cung. Một ống nhỏ có đèn sáng được luồn qua âm đạo và cổ tử cung vào trong tử cung cho phép bác sĩ quan sát bên trong tử cung.
 
- Nong và nạo. Trong thủ thuật này, bác sĩ nong cổ tử cung và sau đó đưa dụng cụ hình thìa vuông vào trong tử cung lấy mô từ nội mạc tử cung để xét nghiệm.
 
- Chụp tử cung vòi trứng. Thuốc nhuộm được bơm vào tử cung và ống dẫn trứng qua cổ tử cung, và chụp X-quang để xác định hình dạng, kích thước tử cung và buồng trứng.
 
Bác sĩ có thể chẩn đoán rong kinh chỉ sau khi đã loại bỏ rối loạn kinh nguyệt, các bệnh hoặc các thuốc khác có thể gây hoặc làm trầm trọng bệnh.

Phòng ngừa:

Nếu bạn bị rong kinh ở tình trạng nhẹ thì có thể không cần điều trị. Nếu máu ra nhiều bạn có thể sử dụng viên thuốc ngừa thai để trị hiện tượng rong kinh, tuy nhiên việc sử dụng viên thuốc ngừa thai cũng mang lại ít nhiều hậu quả nên trước khi sử dụng hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.
 
Bên cạnh đó, hãy áp dụng chế độ ăn uống dinh dưỡng đầy đủ chất và rèn luyện thể dục thể thao tăng cường sức khỏe.
 
Đối với những phụ nữ trên 18 tuổi có quan hệ tình dục thường xuyên, hãy chịu khó khám phụ khoa theo đúng định kì. Nếu tình trạng rong kinh kéo dài và những biện pháp trên không mang lại hiệu quả thì hãy đi khám bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị chính xác. Nếu rong kinh mất máu cấp tính thì phải vào viện cấp cứu.

Điều trị:

1. Điều trị nội khoa
 
Sử dụng các loại thuốc thuốc cầm máu, thuốc nội tiết, thuốc nâng cao thể trạng, thuốc chống viêm nhiễm và phòng chống thiếu máu.
 
2. Điều trị ngoại khoa
 
Trong trường hợp phát hiện các tổn thương phải can thiệp hoặc điều trị nội khoa thất bại gây ảnh hưởng đến sức khỏe, ví dụ: U xơ tử cung, Polip tử cung, u nang buồng trứng…..

Biến chứng:

1.Thiếu máu thiếu sắt
 
Phụ nữ thường dễ bị thiếu máu do ăn uống không đủ chất sắt. Những phụ nữ bị rong kinh càng dễ bị thiếu máu hơn vì số lượng máu, trong đó có chứa nhiều chất sắt, mất đi quá nhiều làm cơ thể bị thiếụ Bệnh thiếu máu sẽ làm bạn dễ mệt mỏi, không hoạt động thể chất được, hơi thở ngắn, nhức đầu, chóng mặt…
 
2. Đau bụng
 
Kinh nguyệt nhiều thường đi kèm với đau bụng kinh. Mặc dù phần lớn phụ nữ chọn cách điều trị đau bụng kinh do rong kinh tại nhà, số còn lại có thể đau nặng hơn và cần đến khám bác sĩ để được kê đơn thuốc hoặc làm thủ thuật ngoại khoa.
 
3. Hiếm muộn
 
Nhiều bệnh có thể gây kinh nguyệt không đều, bao gồm kinh nguyệt nhiều, bất thường buồng trứng, u xơ tử cung và lạc nội mạc tử cung, là các yếu tố chính góp phần gây vô sinh nữ. Kinh nguyệt không đều do nguyên nhân này làm khó có thai hơn.
 
4. Hội chứng sốc ngộ độc
 
Không thay băng vệ sinh sau hơn 8 giờ làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và hội chứng sốc ngộ độc, hiếm gặp nhưng bệnh có thể đe dọa tính mạng do vi khuẩn dính trong băng vệ sinh và sinh độc chất. Các triệu chứng bao gồm sốt rất cao, ỉa chảy, đau họng và rất yếu. Ban trợt thường xuất hiện ở bàn tay và bàn chân. Huyết áp có thể hạ tới mức nguy hiểm.

Chế độ chăm sóc:

Bạn có thể dùng những cách dưới đây để cảm thấy dễ chịu hơn và giúp bác sĩ chữa bệnh có hiệu quả hơn:
 
- Nếu bạn ra máu quá nhiều, đừng vận động hãy nằm nghỉ tại một chỗ.
 
- Ghi lại con số băng vệ sinh đã dùng để bác sĩ có thể ước lượng số máu bị mất. Nếu dùng tampon, nên thay thường xuyên ít nhất là 4 giờ/lần.
 
- Không uống thuốc aspirin vì thuốc này có thể làm tăng chảy máu. Thuốc ibuprofen (Motrin, Advil..) chữa đau bụng khi có kinh công hiệu hơn aspirin.
 
- Hỏi ý kiến bác sỹ để uống thêm chất sắt nhằm tăng lượng sắt trong máu.
 
- Giữ sức khỏe tổng quát bằng cách ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ, tập thể dục thường xuyên, tránh stress nếu có thể.
 
- Khi lượng máu ra quá  nhiều, có dấu hiệu đau bụng nguy hiểm, mệt mỏi như muốn ngất xỉu, hãy nhanh chóng kêu gọi sự giúp đỡ của người thân để đưa đến các trung tâm chăm sóc sức khỏe điều trị.

Bài thuốc dân gian:

Rong kinh, rong huyết là tình trạng xuất huyết qua đường sinh dục, ngoài thời kỳ có mang. Thường không phải ra huyết thời kỳ có kinh; nhưng có lúc rong kinh rồi thành rong huyết. Rong kinh là có kinh kéo dài trên 6 ngày, lượng kinh ra nhiều hơn bình thường.
 
Đông y gọi chứng này là băng lậu. Băng là chảy nhiều, lậu là chảy ít, lúc chảy nhiều lúc chảy ít. Nguyên nhân do ung thư cổ hoặc thân tử cung, loét cổ tử cung, viêm nhiễm tử cung. Ngoài ra còn có một số bệnh toàn thân gây ra như tăng huyết áp, suy gan... Đông y cho là do mạch xung và mạch nhâm bị thương tổn gây rong huyết. Có 2 loại: bệnh thuộc thực và bệnh thuộc hư.
 
Thực chứng: Do huyết nhiệt, thấp nhiệt, huyết ứ, khí uất.
 
Huyết nhiệt: Do tâm hỏa vượng, ăn thức ăn cay nóng làm tăng nhiệt gây nóng, huyết vận hành sai đường. Biểu hiện: đột nhiên ra máu nhiều, màu đỏ sẫm, khát nước, đầu choáng, lưỡi đỏ, rêu vàng, ngủ không yên. Mạch hoạt sác. Phép chữa: thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết (cầm máu). Dùng các bài thuốc sau:
 
Bài 1: Sinh địa 16g, huyền sâm 12g, địa cốt bì 8g, câu kỷ tử 8g, a giao 8g, than bẹ móc 8g, chi tử sao 8g, cỏ nhọ nồi 16g. Đổ nước vừa đủ sắc uống ngày 1 thang, uống nguội ngày 2 lần vào chiều tối.
 
Bài 2: Hoa cây cỏ nến (bồ hoàng) sao đen 20g, địa du 12g, a giao 12g, tóc rối đốt thành than 6g, đan bì 12g, than bẹ móc 12g, bạch thược 12g, sinh địa 12g, hắc giới tử 12g. Tất cả tán bột ngày uống 12g.
 
Huyết ứ: Thường xuất hiện do rong huyết sau nạo thai, đặt vòng tránh thai. Biểu hiện: đột nhiên huyết ra nhiều hoặc ra dầm dề không cầm, có cục sắc tím đen, bụng dưới đau, khí huyết cục ra rồi thì hết đau. Mạch trầm sáp. Phép chữa: thông ứ, chỉ huyết. 
 
Dùng các bài thuốc sau:
 
Bài 1: Ích mẫu 20g, đào nhân 10g, uất kim 8g, nga truật 8g, tóc rối đốt thành than 6g, bách thảo sương 14g, cỏ nhọ nồi 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
Bài 2: Bồ hoàng sống, ngũ linh chi lượng bằng nhau, tán nhỏ. Mỗi lần uống 8g với rượu.
 
Bài 3: đương quy 8g, xuyên khung 8g, tam thất 4g, một dược 4g, ngũ linh chi 4g, đan bì 8g, đan sâm 8g, ngải diệp 12g, ô tặc cốt 12g, mẫu lệ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
Bài 4: Cao ích mẫu, mỗi lần uống 20ml.
 
Thấp nhiệt: Là trường hợp rong huyết do nhiễm khuẩn. Biểu hiện rong huyết nhiều, màu đỏ tím, dính nhớt. Nếu nặng về thấp thì sắc mặt cáu vàng, miệng nhớt dính, tiểu tiện ít, tiêu chảy, rêu lưỡi trắng nhớt. Mạch nhu hoạt. Nếu nặng về nhiệt thì mình nóng, tự đổ mồ hôi, tâm phiền, đại tiện táo, tiểu tiện vàng đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi khô nhớt. Mạch trầm sác. Phép chữa: thanh nhiệt, táo thấp. Dùng một trong các bài thuốc sau:
 
Bài 1: Nếu thiên về nhiệt dùng Hoàng liên giải độc thang: hoàng liên 12g, hoàng bá 12g, hoàng cầm 12g, chi tử sao 10g. Sắc uống nguội ngày 1 thang.
 
Bài 2: Nếu thiên về thấp, dùng Điều kinh thăng dương trừ thấp thang: Khương hoạt 8g, thăng ma 8g, sài hồ 8g, cảo bản 6g, thương truật 8g, hoàng kỳ 8g, phòng phong 8g, cam thảo 4g, mạn kinh tử 6g, độc hoạt 6g, đương quy 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
Khí uất: Biểu hiện đột nhiên ra huyết hoặc ra dầm dề không dứt, có huyết cục, bụng dưới đau lan ra mạn sườn, hay cáu giận, thở dài, rêu lưỡi dày. Mạch huyền. Phép chữa: điều khí, giải uất. Dùng một trong các bài thuốc sau:
 
Bài 1: Hương phụ 8g, bạch truật 8g, đảng sâm 12g, xuyên khung 8g, chỉ xác 6g, cỏ nhọ nồi 16g, thục địa 12g, bồ hoàng 12g. Sắc uống ngày 1 thang
 
Bài 2: Thục địa 8g, bạch thược, xuyên khung, đương quy đều 12g; hương phụ 8g, bạch truật 12g, đảng sâm 12g, hoàng kỳ 8g, địa du 8g, bồ hoàng 8g.  Sắc uống ngày 1 thang.
 
Hư chứng: Do khí hư,  dương hư, âm hư.
 
Khí hư: Do lao động nhiều, dinh dưỡng kém, ảnh hưởng đến khí ở tỳ, phế không nhiếp được huyết. Hoặc lo nghĩ quá độ ảnh hưởng đến tâm, tỳ. Biểu hiện: đột nhiên ra huyết nhiều hoặc ít mà không ngừng, màu đỏ nhạt, người mệt mỏi, đoản hơi, ngại nói, không muốn ăn, đại tiện lỏng, sợ lạnh, ra mồ hôi, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng. Mạch hư tế. Phép chữa: bổ khí, liễm huyết. Dùng các bài thuốc sau:
 
Bài 1: Hoàng kỳ 12g, nhân sâm 8g, đương quy 4g, bạch truật 8g, cam thảo 6g, trần bì 4g, thăng ma 2g, sài hồ 4g, huyết dư (tóc rối đốt cháy) 6g, ô tặc cốt 12g, mẫu lệ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
Bài 2: Bạch truật, nhân sâm, hoàng kỳ, phục thần, đương quy, toan táo nhân, chích thảo đều 4g; viễn chí 2g, mộc hương 2g, long nhãn nhục 5 quả, sinh khương 3 lát, đại táo 4 quả, huyết dư 6g, ô tặc cốt 12g, mẫu lệ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
Bài 3: Đảng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, thăng ma 8g, huyết dư 6g, ô  tặc cốt 12g, mẫu lệ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
Nếu dùng các bài thuốc trên mà rong huyết chưa dứt thì dùng bài Cố bản chỉ băng thang: Đảng sâm 12g, thục địa 12g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, gừng khô nướng cháy 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
 
Dương hư: Do khí hư lâu ngày làm tổn thương dương khí của mệnh môn hỏa (thận dương) làm tử cung hư hàn, không điều hòa được mạch xung, nhân. Biểu hiện  băng huyết rong huyết lâu ngày, sắc mặt vàng nhợt hoặc xám,  bụng dưới và ngang rốn lạnh đau, đau eo lưng, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, thích chườm nóng. Mạch trầm trì, tế, nhược. Phép chữa: ôn bổ thận dương. Dùng bài thuốc: Thục địa 16g, bạch thược 12g, xuyên khung 8g, xuyên quy 8g, a giao 8g, ngải cứu 12g, phụ tử chế 8g, gừng khô nướng cháy 6g, cao sừng hươu 12g.
 
Âm hư: âm hư gây tân dịch và âm huyết giảm sút, làm thương tổn hai mạch xung, nhâm nên rong huyết. Biểu hiện: băng huyết, rong huyết nhiều, màu đỏ sẫm, người gầy yếu, đầu choáng, ù tai, họng khô miệng ráo, tâm phiền, lưng đau, lòng bàn tay nóng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi tróc, thường nóng về chiều (triều nhiệt). Mạch hư, tế, sác. Phép chữa: bổ âm, liễm huyết.
 
Bài thuốc: Thục địa 12g, hoài sơn 12g, phục linh 8g, đơn bì 8g, trạch tả 8g; ô tặc cốt, long cốt, mẫu lệ đều 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
Nếu lâu ngày âm hư gây huyết hư thì dùng: Thục địa 12g, bạch thược 10g, xuyên khung 8g, xuyên quy 8g, a giao 8g, ngải cứu 8g, quy bản 8g, thạch hộc 8g, nữ trinh tử 8g. Sắc uống ngày 1 thang.