Viêm tai ngoài ác tính

14/11/2016 09:47:51

Viêm tai ngoài ác tính có thể là do nhiều lý do.

Viêm tai ngoài ác tính có thể là do nhiễm trùng, bệnh da (chàm hay tăng tiết bã nhờn), nấm, sự kích thích thường xuyên (ngoáy tai), dị ứng, chảy mủ mạn từ tai giữa, u (hiếm), hay có thể đơn thuần sau một thói quen như thường xuyên cào gãi tai. Hiện tượng bị chàm ở ống tai, sau đó có  dịch đen chảy là biểu hiện nhiễm nấm kèm theo.
 
Những phương pháp chuẩn trong điều trị và dự phòng thường điều trị tất cả viêm tai ngoài cấp và viêm tai ngoài ác tính. Tuy nhiên, ở những người bệnh đái tháo đường hay suy giảm miễn dịch, viêm tai ngoài mạn có thể rất nặng (viêm tai ngoài ác tính).
 

Nguyên nhân:

Viêm tai ngoài ác tính phát triển từ ngoài vào trong gây viêm tế bào, viêm xương và có thể làm liệt các dây thần kinh sọ, thậm chí có thể gây tử vong khi quá trình viêm lan tới lớp màng trong của não. Có rất nhiều người thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ này, đặc biệt là những người bị đái tháo đường, nhiễm HIV hoặc người già suy nhược… Tác nhân gây bệnh sẽ len lỏi vào cơ thể từ vết rách da ở ống tai ngoài, thậm chí chỉ là những vết thương do rửa tai, ngoáy tai…
 
Tác nhân gây bệnh viêm tai ngoài ác tính chủ yếu là vi khuẩn làm mủ xanh Pseudomonas Aeruginosa. Có thể hình dung quá trình hình thành bệnh một cách đơn giản: Da ngoài tai bị tổn thương dẫn đến viêm tế bào rồi viêm sụn ở vùng lân cận, tiếp đến viêm các xương nhĩ (các xương búa, đe, bàn đạp ở sát màng nhĩ).
 
Nếu không được điều trị một cách phù hợp, tình trạng viêm nhiễm sẽ lan tới xương thái dương và các vùng gần đó như khớp thái dương hàm, tuyến nước bọt, các mô ở vùng dưới thái dương.
 
Nếu bạn bị viêm tuyến nước bọt, bạn có thể dễ dàng nhận biết bởi một số dấu hiệu như tuyến nước bọt sưng to, lan xuống má phía dưới, lan lên trên, đẩy dái tai lên cao. Bệnh sẽ tiếp tục lan tới phía đáy của xương sọ, làm liệt liên tiếp các dây thần kinh sọ, theo thứ tự phân số từ ngoài vào trong: Trước tiên là dây thần kinh VII (thần kinh mặt), sau đó lần lượt các dây thần kinh hỗn hợp (vừa cảm giác vừa vận động): Dây IX (thần kinh thiệt hầu), dây X (thần kinh phế vị), dây XI (thần kinh phụ) gây ra hiện tượng khó phát âm, rối loạn nuốt; tiếp đến liệt dây XII (thần kinh hạ thiệt) khiến lưỡi bị lệch về phía bên tai đau.

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Chẩn đoán bệnh:

Thường thì người bị viêm tai ác tính rất chủ quan, không hề biết bản thân mình đang phải đối mặt với nguy hiểm. Với các nhà nghiên cứu, cho đến nay nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh vẫn là một bí mật, bởi trong phần lớn trường hợp thì phải đợi đến thời điểm dây thần kinh hỗn hợp bị liệt thì mới xác định được bệnh.
 
Tuy nhiên, cũng vẫn còn nhiều trường hợp, do không làm đủ các xét nghiệm cần thiết, chỉ phát hiện được viêm tai ngoài ác tính khi bệnh nhân đã bị liệt mặt (tổn thương thần kinh VII).
 
Thường thì nếu bị viêm tai ác tính, ống tai sẽ rỉ máu, đặc biệt là khi được hút nhẹ các tiết dịch ra. Khi đã nghi ngờ, Bác sĩ sẽ cho bạn làm những xét nghiệm cần thiết như xét nghiệm dịch mủ rỉ từ tai ra để tìm nguyên nhân gây bệnh; xác định tốc độ lắng máu (hầu hết các trường hợp viêm tai ngoài ác tính đều thấy tốc độ lắng máu tăng cao).
 
Nếu còn nghi ngờ thì phải chụp cắt lớp điện toán (có đo mật độ xương) để kiểm tra hốc xương ở tai giữa và các xương nhĩ (búa, đe, bàn đạp) có bình thường không. Phương pháp này có thể giúp Bác sĩ và bệnh nhân thấy được các hình ảnh viêm xương, những chỗ ống tai ngoài bị mòn vẹt do viêm gây ra cũng như các khối u của mô mềm lân cận làm hẹp ống tai ngoài.
 
Chụp cộng hưởng từ hạt nhân rất cần đối với các thể bệnh đang phát triển để đánh giá mức độ phá hủy xương và tổn thương của các mô mềm. Sau khi đã điều trị, bệnh nhân cần chụp nhấp nháy xương bằng chất đồng bị phóng xạ Gallium 67 để đánh giá mức độ khỏi bệnh.

Phòng ngừa:

- Giảm tiếp xúc với nước: Nếu bạn dễ bị nhiễm trùng, chuyên gia sẽ cho bạn lời khuyên nên sử dụng bấc tai khi tắm hay bơi. Nhỏ cồn (dung dịch thường dùng sau khi bơi) sau khi tiếp xúc với nước hoặc làm khô tai với máy sấy tóc đặt các tai khoảng một cánh tay giúp tai luôn khô ráo.
 
- Đừng đưa bất cứ dụng cụ nào vào tai hay ngoáy tai hay gãi tai.
 
- Giữ tai luôn không có ráy tai: Điều này đòi hỏi bạn đến Bác sĩ đều đặn để làm sạch tai, hay bạn có thể chịu đựng thì dùng những dụng cụ có kích thước phù hợp để lấy ráy tai.
 
Nếu bạn đã bị nhiễm trùng tai, hay nếu bạn bị thủng màng nhĩ hay nếu bạn đã từng phẫu thuật tai và có đặt ống trong tai, bạn nên tham vấn Bác sĩ trước khi bơi hay trước khi dùng bất cứ loại thuốc nhỏ nào.
 
- Có thể dự phòng bằng dung dịch rẻ tiền và dễ làm là trộn cồn và giấm trắng với tỉ lệ bằng nhau (50:50). Dung dịch này làm tăng sự bốc hơi của nước trong ống tai và có tính chất kháng khuẩn.
 
- Nhỏ dầu khoáng có thể giúp bảo vệ tai khỏi nước khi da bị khô dầy sừng.

Điều trị:

Điều trị chung nhất gồm thuốc kháng sinh nhỏ tai (Cortisporin, Volsol, Cipro) có hay không có kèm kháng sinh uống. Những loại thuốc này nên dùng trực tiếp.
 
Trong một vài trường hợp, một miếng bấc được đặt vào trong ống tai để giữ tai luôn mở và giữ kháng sinh duy trì trong ống tai lâu hơn. Một cách định kì hay thường xuyên hút dịch giúp ống tai luôn thoáng, lấy những mô chết, và làm giảm số lượng vi khuẩn.

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: