Viêm não

14/11/2016 09:47:41

Viêm não có 2 thể: thể tiên phát và thể thứ phát. 

Mặc dù thuật ngữ 'viêm não' dùng để chỉ đến tình trạng viêm của não nói chung nhưng nó thường được dùng để chỉ tình trạng viêm của não được gây ra bởi virus. Những thể nặng và có khả năng đe dọa mạng sống của bệnh này khá hiếm.
 
Viêm não có 2 thể: thể tiên phát và thể thứ phát. Viêm não tiên phát là tình trạng nhiễm virus trực tiếp vào não và tủy sống. Ở viêm não thứ phát, virus ban đầu xâm nhập vào một khu vực khác của cơ thể rồi sau đó mới di chuyển đến não.
 

Nguyên nhân:

Nguyên nhân gây ra bệnh viêm não thông thường là do nhiễm virus. Một vài loại virus gây bệnh bao gồm virus herpes (gây bệnh mụn giộp); virus arbo được truyền sang người từ muỗi, ve hay những loại côn trùng khác; virus rabies (virus gây bệnh dại) nhiễm từ vết cắn của một số động vật…
 
Có hai nguyên nhân gây bệnh được phân loại qua hai cách xâm nhập của virus vào não:
 
Viêm não nguyên phát. Chứng viêm não này xảy ra khi virus xâm lấn một cách trực tiếp vào não bộ và dây thần kinh tủy sống. Chứng bệnh này có thể xảy ra quanh năm (viêm não không thường xuyên), hoặc là một phần của một bệnh dịch gọi là dịch viêm não.
 
Viêm não thứ phát. Thể viêm não này xảy ra khi một bộ phận khác của cơ thể bị nhiễm virus trước, rồi sau đó virus này mới xâm nhập vào não.
 
Ngoài ra, tình trạng nhiễm vi khuẩn gây ra bệnh Lyme (một căn bệnh do nhiễm loại vi khuẩn được truyền từ một loại ve, phát hiện lần đầu ở Lyme – địa phận thuộc bang Connecticut, Anh) đôi khi dẫn đến viêm não, hoặc khi cơ thể bị nhiễm ký sinh như toxoplasmosis, nếu hệ miễn dịch của người bị nhiễm ký sinh này bị suy yếu cũng có thể gây ra viêm não.

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Dấu hiệu trong trường hợp viêm não thể nhẹ gồm:
 
- Sốt.
 
- Nhức đầu.
 
- Chán ăn.
 
- Mệt mỏi, ể oải.
 
Trong những trường hợp nặng hơn:
 
Bệnh nhân có thể có sốt cao và kèm theo các triệu chứng liên quan đến tổn thương hệ thần kinh trung ương bao gồm:
 
- Nhức đầu dữ dội; Buồn nôn và nôn mửa; Cứng cổ; Lú lẫn; Mất định hướng; Thay đổi nhân cách; Co giật; Rối loạn nghe nói; Ảo giác; Mất trí nhớ; Đờ đẫn; Hôn mê.
 
Ở trẻ nhỏ, các dấu hiệu trên không điển hình và khó phát hiện. Tuy nhiên, vẫn có một số dấu hiệu quan trọng giúp định hướng chẩn đoán, các dấu hiệu này bao gồm:
 
- Nôn mửa.
 
- Thóp phồng (nếu còn thóp).
 
- Khóc không thể dỗ nín hoặc khóc tăng lên khi trẻ được bồng lên hoặc làm thay đổi tư thế.
 
- Gồng cứng người.
 
Vì viêm não có thể xuất hiện sau hoặc đi kèm với các chứng nhiễm virus nên đôi khi có những triệu chứng đặc trưng của các bệnh này trước khi có viêm não. Tuy vậy, viêm não thường xuất hiện mà không có triệu chứng báo trước nào cả.

Chẩn đoán bệnh:

Viêm não là một cấp cứu y khoa, do đó khi có bất cứ triệu chứng nghi ngờ nào như nêu trên thì cũng cần làm các xét nghiệm sau:
 
- Chọc dịch não tủy: lấy dịch não tủy để xét nghiệm tế bào, vi trùng, hóa sinh hay virus học.
 
- Chẩn đoán hình ảnh: như chụp cắt lớp điện toán (CT scan) hay chụp cộng hưởng từ (MRI) để phát hiện tình trạng phù nề, xuất huyết hay các bất thường khác của não.
 
- Điện não đồ (EEG): khảo sát hoạt động điện của não nhằm phát hiện các sóng bất thường.
 
- Xét nghiệm máu: như công thức máu, xét nghiệm hóa sinh, xét nghiệm huyết thanh học nhằm phát hiện các kháng thể đặc hiệu chống lại bệnh hay phân lập virus.

Phòng ngừa:

Viêm não bản thân nó không thể phòng ngừa được, ngoại trừ những biện pháp phòng ngừa các bệnh lý có thể dẫn đến viêm não. Các bệnh này thường là những bệnh nhiễm trùng thông thường ở trẻ em như sởi, quai bị và thủy đậu và có thể phòng ngừa hiệu quả bằng tiêm chủng.
 
Trong những vùng mà viêm não được lây truyền do côn trùng, nhất là muỗi, thì trẻ em nên:
 
- Tránh chơi ngoài trời vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn (là thời điểm muỗi hoạt động mạnh nhất).
 
- Cần mặc áo quần phủ kín tay chân như mang tất.
 
- Dùng các chất xua đuổi côn trùng.
 
- Nằm màn khi ngủ.
 
- Vệ sinh môi trường: phát quang bụi rậm, thông thoáng cống rãnh, đậy kỹ các vật dụng chứa nước, loại bỏ các dụng cụ thừa có khả năng đọng nước. Mục đích nhằm giảm thiểu nơi cư ngụ cũng như nơi đẻ trứng của muỗi.

Điều trị:

Điều trị viêm não cần được thực hiện tại bệnh viện có đủ phương tiện theo dõi cũng như can thiệp kịp thời.
 
Điều trị gồm theo dõi và kiểm soát huyết áp, tần số tim, hô hấp, rối loạn nước - điện giải và nhất là chống phù não.
 
Ngoại trừ trường hợp viêm não do virus Herpes simplex, hầu hết các trường hợp viêm não không cần dùng kháng sinh vì kháng sinh không có tác dụng. Có thể dùng corticosteroid, các dung dịch ưu trương để điều trị phù não. Các thuốc an thần và chống co giật sử dụng khi có co giật.
 
Trong trường hợp nặng có rối loạn hô hấp, tuần hoàn, bệnh nhân cần điều trị tích cực như thông khí nhân tạo, chống sốc...
 
Điều trị phục hồi chức năng cho những bệnh nhân có di chứng.
 
Tiên lượng
 
Bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn không di chứng. Tuy nhiên trong các trường hợp khác như viêm não do virus Herpes simplex, viêm não Nhật Bản B, viêm não do virus ruột tình trạng tổn thương tế bào não cũng như phù não gây nên các di chứng nặng nề như suy giảm khả năng học tập, mất trí nhớ, mất khả năng kiểm soát vận động cơ, động kinh, thay đổi nhân cách…
 
Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi thường có nguy cơ bệnh nặng hơn và có thể đưa đến bại não. Trường hợp viêm não tổn thương nặng đến thân não, nơi có trung tâm hô hấp, tuần hoàn, điều nhiệt… bệnh nhân dễ tử vong.

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: