Gan nhiễm mỡ không do rượu

14/11/2016 09:47:37
Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là thuật ngữ mô tả một loạt thể bệnh của gan xảy ra ở người uống ít hoặc không uống rượu.
Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là thuật ngữ mô tả một loạt thể bệnh của gan xảy ra ở người uống ít hoặc không uống rượu.
 
Thể nhẹ nhất là gan nhiễm mỡ đơn thuần, chỉ là sự tích luỹ mỡ trong gan và thường không gây tổn thương gan. Nặng hơn là gan nhiễm mỡ không do rượu, thường kèm theo viêm gây tổn thương gan và đôi khi hình thành mô xơ. Một số trường hợp thể bệnh này có thể tiến triển thành xơ gan hoặc ung thư gan.
 
- Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có lẽ là rối loạn ở gan thường gặp nhất trên thế giới (2,8-24% tổng dân số).
 
- Các nghiên cứu gần đây cho thấy gan nhiễm mỡ là một vấn đề đang phát sinh trong vùng châu Á – Thái Bình Dương. Tần suất lưu hành tại vùng châu Á - Thái Bình Dương tương đương Bắc Mỹ (10 - 45% các phân nhóm cộng đồng).
 
- Có bằng chứng rõ rệt tần suất lưu hành tăng theo xu thế chung trong khu vực có dinh dưỡng quá mức, béo phì, đái tháo đường týp 2 và hội chứng rối loạn chuyển hóa.
 

Nguyên nhân:

Có 4 cơ chế chính gây ra sự tích tụ mỡ trong tế bào gan, đó là do chế độ ăn uống quá nhiều dầu mỡ hoặc các acid béo đặc biệt là mỡ động vật quá bão hòa hoặc tăng phân phối mỡ đến tế bào gan; do tăng tổng hợp acid béo ở ty lạp thể hoặc giảm quá trình ôxy hóa mỡ trong tế bào gan; do giảm sự bài xuất tế bào mỡ ra khỏi tế bào gan và do tăng vận chuyển carbonhydrat đến gan quá nhiều.
 
Do đó, nguyên nhân gây ra gan nhiễm mỡ không do rượu có nhiều, song có thể chia làm mấy nhóm sau:
 
Gan nhiễm mỡ do dinh dưỡng: bao gồm thành phần thức ăn không hợp lý, có nhiều chất béo, hấp thu quá nhiều đường, thói quen ăn uống không tốt, chế độ sinh hoạt không điều độ (ngồi nhiều, ít vận động, tinh thần suy nhược, căng thẳng), di truyền (nếu trong gia đình có nhiều người bị béo phì). Trong đó, béo phì là nguyên nhân gây ra gan nhiễm mỡ thường gặp ở các nước phương Tây.
 
Chế độ ăn uống không hợp lý: quá nhiều thịt, mỡ, sử dụng nhiều rượu bia, thuốc lá... kết hợp với áp lực công việc căng thẳng, các stress kéo dài, cuộc sống làm việc tĩnh tại, ít vận động... làm cho tỉ lệ thừa cân - béo phì ở nước ta tăng lên với khoảng hơn 20% dân số. Gan nhiễm mỡ hiện diện ở 80 - 90% bệnh nhân mắc bệnh béo phì và liên quan đến mức độ béo phì.
 
Gan nhiễm mỡ do nội tiết, do bệnh đái tháo đường: trong đó thường gặp hiện nay là gan nhiễm mỡ ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Đây là thể đái tháo đường có thừa cân và béo phì, ngoài ra còn có vai trò của tăng đề kháng insulin làm tăng triglicerid máu, được nhìn nhận dưới góc độ thời sự hiện nay là hội chứng chuyển hóa.
 
Một số trường hợp tiến triển sang viêm gan mỡ và xơ gan. Nguyên nhân gây ra thâm nhiễm mỡ ở gan trên những bệnh nhân đái tháo đường týp 1 là tăng sự giải phóng acid béo từ các mô mỡ thứ cấp thành đường huyết và sự thiếu hụt nồng độ insulin.
 
Ở những bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nguyên nhân gây ra tình trạng thâm nhiễm mỡ là do tăng chất béo và đường trong khẩu phần ăn và sự tăng chuyển hóa đối với các acid béo. Gan nhiễm mỡ được cải thiện ở những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 sau khi loại bỏ lượng mỡ và carbonhydrat dư thừa trong khẩu phần ăn và giảm trọng lượng cơ thể.
 
Các nguyên nhân khác: Gan nhiễm mỡ do chất hóa học: nhiễm độc phosphor, arsenic, chì...; gan nhiễm mỡ do miễn dịch; gan nhiễm mỡ do dùng một số loại thuốc có thể dẫn đến bệnh như các loại corticoid, tetracyclin, các thuốc kháng ung thư, thuốc hormon sinh dục nữ...

Các yếu tố, nguy cơ:

Một loạt bệnh và chứng bệnh có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu:
 
- Một số thuốc.
 
- Phẫu thuật cắt dạ dày.
 
- Cholesterol máu cao.
 
- Triglycerid máu cao.
 
- Suy dinh dưỡng.
 
- Hội chứng chuyển hóa.
 
- Bệnh béo phì.
 
- Giảm cân nhanh.
 
- Chất độc và hóa chất, chẳng hạn như thuốc trừ sâu.
 
- Đái tháo đường týp 2.
 
- Bệnh Wilson.

Triệu chứng, biểu hiện:

Bệnh gan nhiễm mỡ có thể không có triệu chứng; khi xuất hiện thường là không đặc hiệu.
 
Có thể có các triệu chứng như mệt mỏi; đau tức hạ sườn phải; gan to vừa phải, mềm bờ tù, không đau, chỉ tức nhẹ khi ấn.
 
Nói chung, triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, chẩn đoán thường dựa vào siêu âm và để chẩn đoán chính xác phải dựa vào sinh thiết gan. Trên siêu âm, thường chia gan nhiễm mỡ làm 3 độ:
 
Gan nhiễm mỡ độ 1: tăng nhẹ độ hồi âm lan tỏa của nhu mô, mức độ hút âm chưa đáng kể, vẫn còn xác định được cơ hoành và đường bờ các tĩnh mạch trong gan.
 
Gan nhiễm mỡ độ 2:  tăng độ hồi âm lan tỏa của nhu mô, khả năng xác định được cơ hoành và đường bờ các tĩnh mạch trong gan bị giảm nhiều.
 
Gan nhiễm mỡ độ 3: tăng rõ rệt độ hồi âm lan tỏa của nhu mô, mức độ hút âm tăng mạnh đến mức khó xác định được cơ hoành và đường bờ các tĩnh mạch trong gan.

Chẩn đoán bệnh:

* Triệu chứng lâm sàng: các dấu hiệu mơ hồ, không đặc hiệu, có thể gặp triệu chứng đau tức hạ sườn phải, mệt mỏi, gan to mềm.
 
* Xét nghiệm có thể thấy men gan (AST, ALT) tăng. Ferritin, tranferin tăng. Triglycerid, cholesterol, đường huyết tăng.
 
* Siêu âm là phương pháp có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 62% giúp chẩn đoán gan nhiễm mỡ rất rõ qua hình ảnh: gan tăng sáng đồng nhất hoặc từng vùng, cấu trúc mạch vùng ngoại vi thường mất, mất âm vang thành tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch trên gan và cơ hoành. Giảm âm vùng phía sau.
 
Theo phân loại của Hagen-Ansert (1986) dựa trên độ hồi âm và độ hút âm gia tăng chia gan nhiễm mỡ thành 3 mức độ:
 
+ Độ 1: tăng nhẹ độ hồi âm lan tỏa nhu mô, mức hút âm nhỏ, xác định được cơ hoành và bờ đường tĩnh mạch trong gan.
 
+ Độ 2: lan tỏa độ hồi âm gia tăng và độ hút âm nên khả năng nhìn thấy bờ các tĩnh mạch trong gan và cơ hoành giảm.
 
+ Độ 3: tăng độ hồi âm, tăng độ hút âm, không thấy rõ bờ đường tĩnh mạch gan và cơ hoành.
 
Theo một phân loại khác về gan nhiễm mỡ của Lalwani (1998)
 
+ Độ 0: không có hình ảnh gan tăng sáng.
 
+ Độ 1: Gan tăng sáng nhẹ so với thận.
 
+ Độ 3: Mất âm vang thành tĩnh mạch cửa vùng ngoại vi, gan tăng sáng nhiều so với thận, giảm âm vang phía sau.
 
+ Độ 5: giảm âm vang phía sau, mất âm vang của thành tĩnh mạch, gan tăng sáng nhiều so với thận.
 
+ Độ 2 và độ 4: là trung gian gian giữa độ 1, độ 3 và độ 5.
 
Nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm người đọc, chẩn đoán chỉ có giá trị gợi ý.
 
- Xét nghiệm mô bệnh học:
 
+ Tế bào gan nhiễm mỡ to hơn bình thường, chứa nhiều hốc mỡ hay hạt mỡ >5% tổng số tế bào trên 1 vi trường. Nhiễm mỡ có 2 loại: hạt to và hạt nhỏ.
 
+ Viêm gan thoái hóa mỡ: hoại tử tế bào, xâm nhập tế bào viêm, tăng sinh xơ khoảng cửa.
 
+ Mức độ nhiễm mỡ được chia thành 3 mức: nhẹ (5-25% tế bào gan), vừa (25-50%) và nặng (>50%).
 
- Chẩn đoán gan nhiễm mỡ nguy cơ xơ hóa cao:
 
+ Lớn hơn  50 tuổi
 
+ Béo phì
 
+ Đái tháo đường týp 2
 
+ AST/ALT > 1
 
+ ALT huyết thanh > 2 lần giới hạn trên ngưỡng bình thường
 
+ Nồng độ triglycerid > 1,7mmol/L
 
+ Dấu hiệu tăng áp mạch cửa hay xơ hóa gan tiến triển trên chẩn đoán hình ảnh.

Phòng ngừa:

Để giảm nguy cơ bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, cố gắng:
 
- Chọn một chế độ ăn uống khỏe mạnh.
 
- Ăn nhiều trái cây, rau, ngũ cốc và các chất béo lành mạnh.
 
- Duy trì cân nặng khỏe mạnh.
 
- Sử dụng hóa chất cẩn thận.

Điều trị:

Điều trị gan nhiễm mỡ không do rượu gồm:
 
- Điều trị các yếu tố nguy cơ:
 
+ Béo phì: giảm cân.
 
+ Tiểu đường: chế độ ăn tiểu đường, kiểm soát đường chặt chẽ hơn, tập luyện thể dục.
 
+ Tăng cholesterol máu: dùng thuốc hạ lipid máu, chế độ ăn ít chất béo.
 
+ Không uống rượu bia.
 
+ Loại bỏ các thuốc và độc chất gây hại.
 
- Điều trị giảm cân:
 
+ Chế độ ăn giảm chất béo, đường.
 
+ Luyện tập thể dục thể thao.
 
+ Tập yoga.
 
+ Có thể dùng thuốc.
 
- Các thuốc điều trị: chưa có điều trị đặc hiệu:
 
+ Các chất chống ôxy hóa: vitamin E, betaine là chất chuyển hóa cholin.
 
+ Thuốc tăng độ nhạy cảm với insulin: Metformin, thuốc đối vận PPAR-γ (thiazolindinedione).
 
+ Thuốc hạ lipid máu: nhóm fibrate, statin và các resin chelat hóa
 
+ Thuốc bảo vệ gan: Silymarin, acid urodeoxycholic.
 
- Điều trị phẫu thuật:
 
+ Chỉ định: BMI > 35
 
+ Điều trị nội khoa không kết quả.
 
+ Các phương pháp thường dùng: nối tắt dạ dày, đặt bóng, ghép gan.

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

Cùng với sự giúp đỡ của bác sĩ, có thể thực hiện các bước để kiểm soát bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu bạn nên:
 
Giảm cân
 
Nếu đang thừa cân hoặc béo phì, giảm số lượng calo mỗi ngày và tăng hoạt động thể chất để giảm cân. Nếu đã cố gắng để giảm cân trong quá khứ và đã không thành công, hãy hỏi bác sĩ để được giúp đỡ.
 
Chọn một chế độ ăn uống khỏe mạnh
 
Chọn một chế độ ăn uống lành mạnh, đó là nhiều trái cây và rau quả. Giảm lượng chất béo bão hòa trong chế độ ăn và thay vì chọn chất béo chưa bão hòa có trong cá, dầu ô liu và hạt, bao gồm cả các loại ngũ cốc trong chế độ ăn uống, chẳng hạn như các loại bánh mì lúa mì và gạo nâu.
 
Tập thể dục và chủ động hơn
 
Tập ít nhất 30 phút trong hầu hết các ngày trong tuần. Kết hợp chặt chẽ hoạt động trong ngày. Ví dụ, đi cầu thang bộ thay vì thang máy. Đi bộ thay vì đi xe khi đi những đoạn đường ngắn. Nếu đang cố gắng giảm cân, có thể thấy rằng tập thể dục nhiều hơn là rất hữu ích. Nhưng nếu đã không tập luyện thường xuyên, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ và bắt đầu tập.
 
Kiểm soát bệnh tiểu đường
 
Thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường. Uống thuốc theo chỉ dẫn và giám sát chặt chẽ lượng đường trong máu.
 
Hạ cholesterol
 
Tập thể dục, chế độ ăn uống và thuốc có thể giúp giữ cholesterol và triglycerid ở mức khỏe mạnh.
 
Bảo vệ gan
 
Tránh những căng thẳng ảnh hưởng đến gan. Ví dụ, không uống rượu. Thực hiện theo các hướng dẫn trên tất cả các loại thuốc.
 
Thay thế thuốc
 
Không có phương pháp điều trị thuốc thay thế hữu ích trong trị bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu.
 
Vitamin bảo vệ gan
 
Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu bổ sung vitamin cho việc điều trị bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, nhưng kết quả đáng thất vọng. Về lý thuyết, sinh tố được gọi là chất chống ôxy hóa có thể giúp bảo vệ gan bằng cách giảm hoặc trung hoà các tổn hại do viêm gây ra. Nhưng các nghiên cứu bổ sung vitamin không có được hỗ trợ này.
 
Cách an toàn nhất để tăng chất chống ôxy hóa là ăn nhiều trái cây và rau quả. Mặc dù, nếu đang quan tâm đến việc bổ sung vitamin nhưng cũng nên trao đổi với bác sĩ về những lợi ích và rủi ro. Liều lượng lớn các chất bổ sung vitamin có thể can thiệp bằng thuốc hoặc gây ra các biến chứng khác.

Bài thuốc dân gian: