Viêm loét đại tràng

14/11/2016 09:47:38
Ở bệnh nhân bị viêm loét đại tràng, loét và viêm lớp niêm mạc đại tràng gây ra triệu chứng đau bụng, tiêu chảy và chảy máu trực tr&agr
Viêm loét đại tràng là gì ?
 
Đại tràng là một phần của ống tiêu hoá, chứa phân. Trực tràng là phần cuối cùng của đại tràng, nối với phía dưới là hậu môn.
 
Ở bệnh nhân bị viêm loét đại tràng, loét và viêm lớp niêm mạc đại tràng gây ra triệu chứng đau bụng, tiêu chảy và chảy máu trực tràng.
 
Viêm loét đại tràng có liên quan chặt chẽ với các bệnh lý viêm nhiễm khác của ruột gọi là bệnh Crohn. Đồng thời, bệnh còn gọi là viêm ruột. Viêm loét đại tràng và bệnh Crohn là bệnh mạn tính từ hàng thập niên.
 
Bệnh này ảnh hưởng đến gần 500.000 đến 2.000.000 người Mỹ. Đàn ông và phụ nữ mắc bệnh ngang nhau. Bệnh thường bắt đầu suốt tuổi thiếu niên đến tuổi trưởng thành, nhưng bệnh cũng có thể xuất hiện muộn hơn.
 
Bệnh cũng gặp khắp nơi trên thế giới, nhưng thường là ở Mỹ, Anh, và Bắc Âu. Bệnh đặc biệt thường gặp ở người Do Thái. Viêm loét đại tràng hiếm khi gặp ở Đông Âu, Châu Á, và Nam Mỹ, và cũng hiếm thấy ở người da đen. Lý do tại sao vẫn chưa rõ, có sự gia tăng tần suất bệnh này ở các nước phát triển.
 

Nguyên nhân:

Nguyên nhân của viêm loét đại tràng và bệnh Crohn vẫn chưa rõ.Viêm loét đại tràng và bệnh Crohn  là do hoạt động bất thường của hệ miễn dịch trong ruột.
 
Hệ miễn dịch này bao gồm miễn dịch tế bào và miễn dịch protein do tế bào tạo ra. Các tế bào và protein này dùng để bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân có hại như vi khuẩn, vi-rút, nấm và các yếu tố ngoại lai xâm nhập khác.
 
Hoạt hoá hệ miễn dịch là nguyên nhân gây viêm các mô khi hiện tượng hoạt hoá này xảy ra. (Mặt khác, viêm là một cơ chế quan trọng được hệ miễn dịch sử dụng). Bình thường, hệ miễn dịch chỉ hoạt động khi cơ thể tiếp xúc với yếu tố xâm nhập có hại.
 
Tuy nhiên, ở bệnh nhân bị bệnh Crohn và viêm loét đại tràng, hệ miễn dịch bất thường và hoạt động một cách thường xuyên mặc dù vẫn chưa rõ có yếu tố xâm nhập.
 
Hoạt hoá bất thường và liên tục của hệ miễn dịch là nguyên nhân gây viêm và loét mãn tính. Tính nhạy cảm bất thường của hệ miễn dịch không phải là do di truyền.
 
Do đó, những người thân thế hệ thứ nhất (anh em trai, chị em gái, con, và cha mẹ) của bệnh nhân bị bệnh ruột kích thích rất giống với những bệnh này (viêm loét đại tràng và bệnh Crohn).

Các yếu tố, nguy cơ:

Các yếu tố có thể dẫn tới gây viêm loét đại tràng:
 
- Miễn dịch. Một số nhà khoa học cho rằng đường tiêu hóa bị viêm khi phải chống lại sự xâm nhập của các vi sinh vật như vi khuẩn hay virus.
 
- Di truyền. Có cha mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh làm tăng nguy cơ mắc bệnh, điều này cho thấy di truyền có vai trò trong bệnh này.
 
- Môi trường. Do viêm loét đại tràng hay xảy ra hơn ở người dân thành thị và ở các nước công nghiệp, nên có lẽ các yếu tố môi trường, như chế độ ăn nhiều chất béo hoặc nhiều thực phẩm tinh chế cũng đóng vai trò.
 
- Kháng sinh. Điều trị kháng sinh có thể dẫn đến viêm đại tràng cấp hoặc viêm đại tràng giả mạc do kháng sinh phá vỡ sự cân bằng vi khuẩn bình thường trong ruột.

Triệu chứng, biểu hiện:

Bệnh nhân bị viêm đại tràng có tiên lượng tốt hơn bệnh nhân bị viêm đại tràng lan rộng. Các loại viêm loét đại tràng khác nhau được phân loại tuỳ theo vị trí và mức độ lan rộng của viêm:
 
Viêm loét trực tràng:
 
Thường viêm giới hạn ở trực tràng. Ở một vài bệnh nhân bị viêm loét trực tràng, triệu chứng chảy máu trực tràng nhẹ, không liên tục, có thể đây là triệu chứng duy nhất.  Ở những bệnh nhân khác, triệu chứng viêm trực tràng có vẻ nặng hơn, họ trải qua cơn đau vùng trực tràng, cảm giác mót đi đại tiện (đột ngột mót đi đại tiện và không chịu nổi vì sợ bẩn), và cảm giác mót rặn, đau quặn (đau khi ruột có nhu động).
 
Viêm loét đại tràng xích-ma (là một đoạn ngắn nối với trực tràng) và trực tràng:
 
Triệu chứng của viêm loét đại tràng xích-ma và trực tràng cũng giống với viêm loét trực tràng, bao gồm chảy máu trực tràng, cảm giác mót đi đại tiện, buốt mót vùng hậu môn, đau quặn bụng. Một số bệnh nhân bị viêm loét đại tràng xích ma-trực tràng cũng có triệu chứng tiêu chảy có máu và đau quặn.
 
Viêm loét đại tràng trái bắt đầu từ trực tràng lan lên đoạn đại tràng bên trái (đại tràng xích-ma và đại tràng xuống). Triệu chứng của viêm loét đại tràng trái gồm tiêu chảy phân có máu, đau quặn bụng dọc theo khung đại tràng trái, sụt cân.
 
Viêm toàn bộ đại tràng (gồm cả đại tràng phải, đại tràng trái, đại tràng ngang và trực tràng). Triệu chứng của viêm loét toàn bộ đại tràng bao gồm ỉa ra máu, đau quặn bụng, sụt cân, mệt mỏi, sốt, đổ mồ hôi về đêm. Một số bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng có mức độ viêm nhẹ và có triệu chứng nhẹ, dễ dàng đáp ứng với điều trị thuốc. Tuy nhiên, bệnh nhân bị viêm toàn bộ đại tràng thường là bệnh nặng và khó điều trị hơn so với những người bị viêm loét đại tràng còn khu trú.
 
Viêm loét đại tràng bùng phát, hiếm gặp nhưng là dạng bệnh cực kỳ nặng của viêm loét toàn bộ đại tràng, người bệnh mất nước, đau bụng dữ dội. Bệnh nhân bị viêm đại tràng bùng phát, tiêu chảy ra máu kéo dài và thường bị choáng. Bệnh nhân có nguy cơ bị phình đại tràng nhiễm độc (giãn đại tràng do viêm nặng) và thủng đại tràng.
 
Những bệnh nhân bị viêm đại tràng bùng phát và phình đại tràng do nhiễm độc cần phải nhập viện để điều trị bằng thuốc truyền tĩnh mạch. Nếu không đáp ứng với điều trị bằng thuốc, thì cần thiết phải phẫu thuật cắt bỏ đại tràng để phòng ngừa thủng đại tràng.
 
Trong khi đó mức độ nặng của viêm loét đại tràng tiến tiển và thoái triển theo thời gian, vị trí và độ lan rộng của viêm đại tràng trên bệnh nhân thường giữ ổn định. Tuy nhiên, khi bệnh nhân bị viêm loét trực tràng bị tái phát, thường viêm cũng chỉ giới hạn ở trực tràng.
 
Ở một số ít bệnh nhân(dưới 10%) viêm loét trực tràng hay trực tràng xích–ma, về sau có thể biến thành viêm đại tràng lan rộng. Do đó, ban đầu bệnh nhân chỉ bị loét trực tràng, về sau có thể phát triển thành viêm loét đại tràng trái hoặc bị viêm loét toàn bộ đại tràng.

Chẩn đoán bệnh:

Chẩn đoán viêm loét đại tràng được nghĩ tới khi có triệu chứng đau bụng, chảy máu trực tràng và tiêu chảy.
 
- Lấy mẫu phân đem phân tích để loại trừ nguyên nhân nhiễm trùng và ký sinh trùng, vì những bệnh này cũng có triệu chứng giống như viêm loét đại tràng.
 
- Xét nghiệm máu cũng có thể cho thấy thiếu máu và tăng tế bào bạch cầu, tăng tốc độ lắng máu (đúng hơn là tăng tốc độ lắng của hồng cầu). Sự gia tăng tế bào bạch cầu và tốc độ lắng hồng cầu phản ánh có tình trạng viêm ở đại tràng.
 
- Để khẳng định có viêm loét đại tràng cần phải nội soi đại tràng. Bác sĩ dùng một ống nhỏ có thể bẻ cong được, đưa vào trực tràng (soi đại tràng xích-ma và soi đại tràng). cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp bên trong lòng đại tràng giúp chẩn đoán bệnh và xác định mức độ lan rộng của tổn thương viêm loét đại tràng.
 
Qua nội soi, bác sĩ sẽ lấy một mẫu nhỏ mô đại tràng (sinh thiết) để xác định mức độ nặng của tổn thương. Việc hiểu rõ về mức độ lan rộng, và độ nặng của viêm loét đại tràng là rất quan trọng trong việc lựa chọn các biện pháp điều trị.
 
- Chụp Xquang đại tràng có bơm chất cản quang cũng có thể giúp chẩn đoán viêm loét đại tràng. Trong suốt thời gian chụp bằng baryt, một chất trắng được đưa vào trong trực tràng và vào đại tràng.
 
Bari là một chất cản quang, làm cho hình ảnh đại tràng được rõ nét khi chụp. Chất bari kém chính xác hơn so với kỹ thuật quan sát trực tiếp trong chẩn đoán viêm loét đại tràng.

Phòng ngừa:

Chế độ ăn uống và luyện tập có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh viêm loát đại tràng. Cần có chế độ ăn uống và luyện tập phù hợp để có một kế hoạch dự phòng cho bệnh này.
 
Nên ăn uống đúng giờ, tránh bỏ bữa. Không nên ăn các thức ăn lâu ngày, thức ăn ôi thiu.
 
Bên cạnh đó nên có một chế độ luyện tập thể dục để tăng cường sức khỏe, chống lại các bệnh tật.

Điều trị:

Các phương pháp điều trị bệnh viêm loét đại tràng:
 
- Điều trị chống viêm:
 
Bao gồm các thuốc chống viêm như Sulfasalazine (Azulfidine), mesalamine (Asacol, Rowasa) và olsalazine (Dipentum), Balsalazide (Colazal), corticosteroid.
 
Các thuốc ức chế miễn dịch như (Imuran) và mercaptopurine (Purinethol), cyclosporine (Neoral, Sandimmune), infliximab (Remicade), cao dán nicotin.
 
- Điều trị triệu chứng: gồm thuốc chống tiêu chảy, thuốc giảm đau và bổ sung sắt.
 
- Phẫu thuật cắt toàn bộ đại trực tràng và làm hậu môn nhân tạo hoặc nối ruột non với hậu môn nếu điều trị nội khoa và các biện pháp điều trị khác không làm bệnh thuyên giảm. Từ 25-40% số bệnh nhân viêm loét đại tràng cuối cùng sẽ phải phẫu thuật.

Biến chứng:

Bệnh nhân viêm loét đại tràng còn khu trú ở trực tràng hoặc đoạn cuối của đại tràng trái thường có tiên lượng tốt. Một đợt điều trị ngắn bằng thuốc uống hoặc thuốc bơm vào đại tràng có thể cũng đủ. Ở những bệnh nhân này hiếm khi xảy ra biến chứng nặng.
 
Ở những bệnh nhân bị viêm loét đại tràng lan rộng, mất máu từ nơi bị viêm có thể dẫn đến thiếu máu, đòi hỏi phải điều trị bổ sung thêm chất sắt hoặc truyền máu. Rất hiếm khi đại tràng bị giãn cấp tính khi bị viêm nặng.
 
Bệnh này gọi là phình đại tràng nhiễm độc. Bệnh nhân bị phình đại tràng nhiễm độc rất nặng, sốt cao, đau bụng, chướng bụng, mất nước và suy dinh dưỡng. Nếu không cải thiện nhanh chóng bằng thuốc, thường cần phẫu thuật để phòng ngừa vỡ đại tràng.
 
Ung thư đại tràng được xem như là một biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính. Nguy cơ ung thư bắt đầu tăng đáng kể sau 8-10 năm bị viêm loét đại trực tràng. Nguy cơ bệnh nhân bị viêm loét đại tràng phát triển thành ung thư cũng liên quan đến vị trí và mức độ lan rộng của bệnh viêm loét đại tràng. Bệnh nhân chỉ bị viêm loét đại tràng có lẽ không gia tăng nguy cơ ung thư đại tràng so với dân số chung.
 
Bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng đang hoạt động 10 năm hoặc lâu hơn, thì nguy cơ bị ung thư đại tràng cao gấp 10-20 lần so với dân số chung. Bệnh nhân bị viêm loét đại tràng trái mãn tính, nguy cơ ung thư đại tràng tăng nhưng không cao như nhóm bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng mãn tính.
 
Trước đây ung thư đại tràng dễ xảy ra nếu như bệnh nhân mắc bệnh viêm loét đại tràng sớm. Khám đại tràng hàng năm có thể được khuyến cáo sau khi mắc bệnh 8 năm. Trong lúc khám, bác sĩ sẽ sinh thiết mô để tìm thay đổi tiền ung thư của những tế bào niêm mạc đại tràng. Khi đã xác định có sự thay đổi tiền ung thư, thì việc cắt bỏ đại tràng có thể cần thiết để ngăn ngừa ung thư đại tràng.
 
Biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính có thể xảy ra ở nơi khác trong cơ thể. Khoảng 10% bệnh nhân có thể bị viêm khớp (viêm khớp). Một số bệnh nhân có triệu chứng đau lưng do viêm khớp cùng- chậu. Hiếm hơn, người bệnh có thể bị đau, đỏ da, nốt cứng da. Còn một số bệnh nhân khác lại có triệu chứng đau, đỏ mắt. Vì những biến chứng này có nguy cơ làm giảm thị lực. Đau mắt, đỏ mắt là những triệu chứng đòi hỏi người bệnh phải đến khám bác sĩ.
 
Bệnh của gan và ống mật cũng có thể kết hợp với viêm loét đại tràng. Chẳng hạn, một số rất ít bệnh nhân mắc chứng bệnh gọi là viêm xơ hoá đường mật, làm cho viêm và nhiễm trùng đường mật hay tái phát có thể gây ra sốt hồi qui, vàng da, xơ gan, và cần phải ghép gan.

Chế độ chăm sóc:

1. Chế độ ăn đối với người mắc hội chứng đại tràng kích thích
 
Hội chứng đại tràng kích thích là một bệnh đại tràng mãn tính, kéo dài với những biểu hiện đặc trưng như: Chướng bụng, đầy hơi; đau quặn bụng, đại tiện thì giảm đau; đại tiện thất thường - phân lỏng - có khi táo bón; đại tiện phân không có máu. Với người mắc bệnh này, chế độ ăn ngoài việc đảm bảo đủ thành phần dinh dưỡng và đủ năng lượng thì còn phải phối hợp sử dụng thuốc để giảm chướng bụng, đầy hơi và tiêu chảy.
 
Nguyên tắc chung trong chế độ ăn uống với người mắc bệnh này là:
 
- Nên ăn thêm nhiều chất xơ như bột ngô, rau xanh, gạo lứt, bột cám, ngày 2-3 thìa chia 2 lần, hoà với nước lọc ấm hoặc trộn lẫn với cơm.
 
- Không nên ăn trứng, sữa, nem rán, thịt mỡ, đậu đen, hành sống, nho, mận, rượu vang đỏ, bia, cà phê, nước ngọt có ga, nước chanh đóng hộp... bởi những loại thực phẩm này gây đầy hơi, chướng bụng.
 
- Cần loại bỏ các thức ăn có nhiều lactose (sữa), nhiều fructose (quả ngọt, mật ong), nhiều sorbitol (có trong một số bánh kẹo ngọt) nhằm chống tiêu chảy.
 
- Nên ăn canh lá vông, uống chè tâm sen hoặc uống mỗi tối 2 viên sen vông vì trong hội chứng đại tràng kích ứng thì vấn đề an thần cũng rất bổ ích cho trị liệu.
 
2. Chế độ ăn đối với người mắc viêm loét đại tràng mãn tính
 
Viêm loét đại tràng mãn tính thường tái phát, tổn thương, đặc trưng là viêm niêm mạc ở đại tràng và trực tràng. Đặc điểm lâm sàng của bệnh gồm: Tiêu chảy phân có lẫn máu tươi, đi ngoài nhiều lần trong ngày; đau thắt bụng dưới, mót đại tiện; thiếu máu, giảm albumin máu, sút cân. Đa số bệnh nhân mắc viêm loét đại tràng xích-ma và trực tràng nhưng tổn thương cũng có thể cao hơn.
 
Chế độ ăn cho người mắc bệnh này:
 
- Chống tiêu chảy bằng cách dùng thực phẩm nhiều chất xơ như gạo lứt, bột cám, bột, ngô, rau nhừ.
 
- Chống mất nước bằng cho uống dung dịch Oresol (ORS) hoặc cho uống nước gạo rang.
 
Vì thế, với bệnh viêm loét đại tràng thì cần lưu ý những điều sau đây trong nguyên tắc ăn uống.
 
- Tránh dùng những loại thức ăn cứng như rau sống, ngô luộc, múi trái cây để không ảnh hưởng đến vết loét. Không dùng những thức ăn sinh hơi như trứng, sữa, nước ngọt có ga… Bệnh nhân có thể dùng sữa đậu nành hoặc sữa chua đậu tương.
 
- Cần bổ sung protein và năng lượng bằng: Bột dinh dưỡng có loại tảo; bằng truyền tĩnh mạch đạm như Moriamion, Alvesin, Albumin, dung dịch glucose 30% (cứ 3g glucose thì cho thêm 1 đơn vị insulin). Nếu mất nước phải truyền tĩnh mạch dung dịch Ringerlatat.
 
- Tối thiểu cũng phải đảm bảo được mỗi ngày 30Kcal, 0,8g protein/1 kg thể trọng và đủ vitamin, khoáng, vi khoáng, nếu không sẽ suy dinh dưỡng nặng. Chế biến thức ăn dựa vào các nguyên tắc trên nhưng bệnh nhân cần theo dõi sự thích nghi của cơ thể để lựa chọn thực phẩm phù hợp.

Bài thuốc dân gian: