Thông liên thất

14/11/2016 09:47:45
Thông liên thất (thường đươc viết tắt là VSD) là một dị tật của vách liên thất, tức là vách ngăn giữa hai buồng tâm thất của tim.
Thông liên thất (thường đươc viết tắt là VSD) là một dị tật của vách liên thất, tức là vách ngăn giữa hai buồng tâm thất của tim.
 
Vách liên thất là một cấu trúc phức tạp gồm: phần cơ, phần màng, phần phễu, phần buồng nhận. Thông thường khi trẻ sinh ra, vách này không có lỗ thông, vì vậy không cho phép máu của hai tâm thất hòa trộn với nhau. Trong vách liên thất là nơi có phần đầu quan trọng của hệ thống thần kinh dẫn truyền xung động từ nhĩ đến các phần cơ thất.
 
Người ta nhận thấy ngoài nguyên nhân do mẹ bị cúm trong ba tháng đầu mang thai, thông liên thất hay gặp trong các hội chứng bệnh lý, đặc biệt là hội chứng có ba nhiễm sắc thể 21, hội chứng do mẹ nghiện rượu khi mang thai...
 
Có rất nhiều cách phân loại giải phẫu bệnh về thông liên thất khác nhau được đặt ra nhưng nhìn chung lại có 4 loại thông liên thất chính về giải phẫu bệnh là: thông liên thất phần quanh màng, thông liên thất phần cơ, thông liên thất phần buồng nhận và thông liên thất phần phễu (thông liên thất ở phía trên của cựa Wolff).
 
1. Thông liên thất phần quanh màng là loại thông liên thất hay gặp nhất, chiếm khoảng 70-80% các trường hợp, nằm ở cao thuộc phần màng của vách liên thất, ở chỗ nối giữa van 3 lá và van động mạch chủ.
 
Tuy nhiên, nó có thể dịch chuyển ra sau, ra trước hay xuống dưới một chút tùy từng trường hợp. Tổn thương thường phối hợp tạo thành một túi nhỏ ở dưới van 3 lá hay xung quanh bờ van (thường cũng được gọi là túi phình phần màng vách liên thất). Nó có thể gây hở van động mạch chủ và hẹp phần thấp của đường ra thất phải. Đây là loại thông liên thất có khả năng tự đóng cao.
 
2. Thông liên thất phần cơ hay thông liên thất ở gần mỏm tim. Nó có thể ở bất cứ vị trí nào của phần thấp vách liên thất cho đến mỏm tim. Thể bệnh này chiếm khoảng 5-20% các trường hợp thông liên thất và cũng có khả năng tự đóng cao trừ các trường hợp có nhiều lỗ thông liên thất T.
 
3. Thông liên thất phần buồng nhận hay thông liên thất kiểu ống nhĩ thất chung chiếm khoảng 5-8% các trường hợp. Thông liên thất loại này thường ở vị trí cao của vách liên thất, rộng, ít khả năng tự đóng và hay đi kèm tổn thương của các van nhĩ thất. Hay gặp phình vách liên thất ở vị trí này.
 
4. Thông liên thất phần phễu hay thông liên thất dưới van động mạch chủ hoặc dưới van động mạch phổi: hiếm gặp hơn (5-7%), là loại thông liên thất mà lỗ thông nằm ở phần rất cao của vách liên thất nơi có tiếp giáp với van động mạch chủ và van động mạch phổi .
 
Điểm đặc biệt quan trọng của loại thông liên thất này là lỗ thông thường phối hợp với tổn thơng lá van động mạch chủ và có hở chủ đi kèm (hội chứng Laubry-Pezzy).
 

Nguyên nhân:

Tim dị tật lúc mới sinh (bẩm sinh) phát sinh từ lỗi đầu trong phát triển của tim, nhưng thường không có nguyên nhân rõ ràng.
 
Yếu tố di truyền là một trong những nguyên nhân gây ra chủ yếu đối với dị tật bẩm sinh trong bệnh gây thông liên thất, các yếu tố trong thời kì bà mẹ mang thai.
 
Thông liên thất xảy ra khi các vách ngăn, những bức tường ngăn cách tim bên trái và phải, không hình thành đầy đủ giữa các ngăn dưới của tim (tâm thất) trong quá trình phát triển của thai nhi. Điều này khiến trộn máu đã được sử dụng và máu đỏ.
 
Kết quả là huyết tràn phổi và tim làm việc quá sức. Nếu lỗi này nghiêm trọng và không được điều trị, áp lực máu trong phổi tăng lên (tăng áp động mạch phổi), các tâm thất lớn và làm việc không còn hiệu quả.
 
Cuối cùng, có thể dẫn đến tổn hại không thể đảo ngược động mạch phổi.

Các yếu tố, nguy cơ:

Có các bệnh sau đây trong thời gian mang thai có thể làm tăng nguy cơ sinh con bị khuyết tật tim bẩm sinh.
 
- Lây nhiễm Rubella. Bị nhiễm rubella (sởi Đức) trong khi mang thai làm tăng nguy cơ dị tật tim ở thai nhi. Virus rubella qua nhau thai và lây lan qua hệ thống tuần hoàn mạch máu thai nhi gây tổn hại các cơ quan, bao gồm cả tim.
 
- Bệnh tiểu đường khó kiểm soát. Bệnh tiểu đường người mẹ không được kiểm soát sẽ ảnh hưởng đến lượng đường trong máu thai nhi, gây ra nhiều hiệu ứng có hại cho sự phát triển thai nhi.
 
- Ma túy hoặc uống rượu hoặc tiếp xúc với một số chất. Sử dụng một số loại thuốc, rượu hoặc ma túy hoặc tiếp xúc với hóa chất hoặc phóng xạ trong khi mang thai có thể gây hại cho phát triển bào thai.

Triệu chứng, biểu hiện:

Các dấu hiệu và triệu chứng của dị tật vách liên thất lớn ở trẻ chưa điều trị bao gồm:
 
- Da, môi và móng tay xanh tím.
 
- Ăn kém, không phát triển mạnh.
 
- Thở nhanh hoặc khó thở.
 
- Dễ mệt mỏi.
 
- Sưng phù chân, bàn chân hoặc bụng.
 
- Tim đập nhanh.
 
Mặc dù những dấu hiệu có thể do các bệnh khác gây ra, nhưng có thể là do một khuyết tật tim bẩm sinh.
 
Có thể nhận thấy dấu hiệu của dị tật vách liên thất bẩm sinh. Nếu khuyết tật nhỏ, các triệu chứng có thể không xuất hiện trong thời thơ ấu. Các dấu hiệu và triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào kích thước của lỗ. Bác sĩ đầu tiên có thể nghi ngờ khuyết tật tim trong lần khám bệnh thường quy khi nghe tim của trẻ.
 
Đôi khi dị tật vách liên thất không được phát hiện cho đến khi tới tuổi trưởng thành và phát triển các dấu hiệu hoặc triệu chứng của suy tim, chẳng hạn như khó thở.

Chẩn đoán bệnh:

Nếu bác sĩ nghe thấy một tiếng thổi hoặc thấy các dấu hiệu hoặc triệu chứng của một khuyết tật tim, có thể yêu cầu làm một hoặc một số xét nghiệm sau:
 
Chụp Xquang
 
Hình ảnh Xquang giúp bác sĩ xem tim và phổi. Xquang có thể xác định các bệnh khác hơn là một khuyết tật tim và có thể giải thích triệu chứng.
 
Điện tâm đồ (ECG)
 
Xét nghiệm này ghi lại hoạt động điện của tim qua các điện cực gắn liền với da. Xét nghiệm này sẽ giúp chẩn đoán dị tật tim hay các rối loạn nhịp tim.
 
Siêu âm tim
 
Siêu âm tim sử dụng sóng âm thanh để tạo ra một hình ảnh video của tim. Hình ảnh này có thể giúp các bác sĩ xem tim có bất thường không và xác định xem nó có bơm đúng cách không. Siêu âm tim cũng có thể được thực hiện khi bé vẫn còn trong bụng mẹ (siêu âm tim thai nhi).
 
Đặt ống thông tim
 
Trong xét nghiệm này, một ống thông được chèn vào mạch máu ở háng hay cánh tay và hướng tới các mạch máu về tim. Thông qua đặt ống thông, các bác sĩ có thể chẩn đoán dị tật tim bẩm sinh và kiểm tra tâm thất, tim giãn và các chức năng của các van tim.
 
Phương pháp đo ôxy động mạch
 
Phương pháp này không gây đau đớn, kiểm tra ôxy mô, giúp xác định xem máu chứa ôxy trộn với máu nghèo ôxy, có thể giúp chẩn đoán các loại khuyết tật tim.

Phòng ngừa:

Trong hầu hết trường hợp, không thể làm bất cứ điều gì để ngăn chặn việc sinh con bị dị tật vách liên thất. Tuy nhiên, điều quan trọng là làm mọi thứ có thể để có thai kỳ khỏe mạnh. Dưới đây là những điều cơ bản:
 
- Cần phải cẩn thận trước khi sinh, thậm chí trước khi mang thai. Bỏ thuốc lá, giảm căng thẳng, kiểm soát sinh, đó là tất cả những điều cần phải nói chuyện với bác sĩ trước khi có thai. Ngoài ra, hãy chắc chắn rằng bạn đã nói chuyện với bác sĩ về bất cứ loại thuốc nào đang dùng.
 
- Chế độ ăn uống cân bằng. Bao gồm bổ sung vitamin có chứa axít folic. Ngoài ra, hạn chế caffeine.
 
- Tập thể dục thường xuyên. Làm việc với bác sĩ để có kế hoạch tập thể dục phù hợp.
 
- Tránh nguy cơ. Chúng bao gồm các chất có hại như rượu, thuốc lá và ma túy. Ngoài ra, tránh chụp X-quang, bồn tắm nóng và phòng tắm hơi.
 
- Tránh nhiễm trùng. Hãy chắc chắn bạn đã thực hiện tất cả các mũi tiêm phòng trước khi mang thai. Một số loại bệnh nhiễm trùng có thể gây hại cho bào thai phát triển.
 
- Kiểm soát bệnh tiểu đường. Nếu bị tiểu đường, hãy thảo luận với bác sĩ để chắc chắn bệnh sẽ được kiểm soát tốt trước khi mang thai.
 
- Nếu có tiền sử gia đình bị các khuyết tật tim hoặc rối loạn di truyền khác, xem xét việc nói chuyện với một cố vấn di truyền trước khi có thai.

Điều trị:

Thuốc
 
Thuốc dùng cho các dị tật vách liên thất có thể bao gồm:
 
- Giữ nhịp tim bình thường. Ví dụ như thuốc chẹn beta (Lopressor, Inderal, các thuốc khác) và digoxin (Lanoxin, Lanoxicaps, Lanoxin).
 
- Tăng sức mạnh của tim. Ví dụ digoxin (Lanoxin).
 
- Giảm lượng nước trong tuần hoàn. Làm giảm thể tích máu được bơm. Những loại thuốc này được gọi là thuốc lợi tiểu, bao gồm furosemide (Lasix).
 
Thủ thuật
 
Phẫu thuật điều trị dị tật vách liên thất qua ống thông hoặc mổ vá bất thường giữa các tâm thất. Hai phương pháp tiếp cận hiện đang được sử dụng:
 
-  Phẫu thuật chỉnh sửa. Đây là thủ thuật được lựa chọn trong nhiều trường hợp. Phẫu thuật chỉnh sửa dị tật vách liên thất thường liên quan đến phẫu thuật tim mở, được thực hiện dưới gây mê toàn thân. Phẫu thuật này đòi hỏi máy tim phổi và một vết mổ ở ngực. Bác sĩ sẽ vá hoặc khâu để đóng lỗ.
 
- Catheter. Phương pháp này có thể được dùng để đóng lỗ vách liên thất khi phẫu thuật chỉnh sửa là không thể. Vá khi đặt ống thông không cần phải mở lồng ngực. Thay vì mở ngực, các bác sĩ đưa một ống nhỏ (ống thông) vào mạch máu ở háng và hướng nó vào tim.
 
Các bác sĩ sau đó sử dụng một bản vá lưới nhỏ để đóng lỗ. Quy trình này có tỷ lệ biến chứng cao hơn phẫu thuật, và nghiên cứu thêm là cần thiết để hiểu đầy đủ về độ an toàn và hiệu quả của nó.
 
Kháng sinh dự phòng
 
Nên dùng kháng sinh trước các thủ thuật nha khoa hoặc các thủ thuật y tế khác để giảm nguy cơ viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, bạn cần thảo luận với bác sĩ.
 
Ngày nay, các chuyên gia tin rằng khả năng bị viêm nội tâm mạc nhiều hơn do tiếp xúc với vi trùng ngẫu nhiên từ một thủ thuật nha khoa hoặc phẫu thuật. Hướng dẫn hiện nay khuyến cáo điều trị kháng sinh dự phòng chỉ dành cho những người có nguy cơ cao bị biến chứng nghiêm trọng do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
 
Bác sĩ vẫn có thể khuyên nên dùng kháng sinh phòng ngừa nếu:
 
- Có một bệnh khác hoặc van tim nhân tạo.
 
- Có dị tật lớn ở vách liên thất gây ra mức độ ôxy trong máu thấp.
 
- Đã có chỉnh sửa với chất liệu nhân tạo.
 
Đối với hầu hết những người có dị tật vách liên thất, thực hành tốt vệ sinh răng miệng và được thường xuyên kiểm tra răng miệng là chiến lược hiệu quả nhất để phòng ngừa viêm nội tâm mạc.

Biến chứng:

Hội chứng Eisenmenger
 
Cuối cùng, nếu thông liên thất lớn, không được điều trị tăng áp phổi, gây ra tăng áp lực động mạch phổi. Theo thời gian, tổn thương cho các động mạch phổi phát triển và tăng áp phổi có thể trở thành không thể đảo ngược.
 
Biến chứng này, được gọi là hội chứng Eisenmenger, có thể xảy ra trong thời thơ ấu, hoặc nó có thể phát triển từ từ qua nhiều năm. Ở người bị hội chứng Eisenmenger, phần lớn các lưu lượng máu qua các dị tật vách liên thất đi từ tâm thất phải sang trái.
 
Điều này có nghĩa là máu đã loại ôxy được bơm vào cơ thể và dẫn đến sự đổi màu da, môi, ngón tay và ngón chân (tím) và các biến chứng khác. Khi một người có hội chứng Eisenmenger, nó đã quá muộn để phẫu thuật sửa chữa các lỗ vì không thể phục hồi tổn thương cho các động mạch phổi đã xảy ra.
 
Các biến chứng khác bao gồm:
 
- Suy tim. Sự gia tăng lưu lượng máu qua tim do dị tật vách liên thất cũng có thể dẫn đến suy tim, một tình trạng mãn tính trong đó tim không thể bơm máu hiệu quả.
 
- Viêm nội tâm mạc. Những người có dị tật vách liên thất tăng nguy cơ nhiễm trùng tim (viêm nội tâm mạc).
 
- Đột quỵ. Những người có dị tật lớn, đặc biệt xảy ra với hội chứng Eisenmenger, có nguy cơ bị đột quỵ do cục máu đông đi qua các lỗ trong tim và đi lên não.
 
- Vấn đề tim mạch khác. Vách liên thất khuyết tật cũng có thể dẫn đến nhịp tim bất thường và các vấn đề van.
 
Thông liên thất và mang thai
 
Mang thai thường là một mối quan tâm đối với phụ nữ sinh ra với một khuyết tật tim. Dị tật vách liên thất có sửa chữa mà không có biến chứng hoặc có lỗi rất nhỏ không gây thêm bất kỳ nguy cơ nào trong thai kỳ.
 
Tuy nhiên, có dị tật lớn không được sửa chữa, bệnh tim, tím tái hoặc khuyết tật tim khác gây rủi ro cao cho cả người mẹ và thai nhi. Phụ nữ bị hội chứng Eisenmenger có nguy cơ cao bị biến chứng. Các bác sĩ khuyên những phụ nữ này không mang thai.
 
Phụ nữ sinh ra với một khuyết tật tim cũng chưa quan tâm về nguy cơ sinh ra em bé có một khuyết tật tim. Phụ nữ không mắc bệnh tim bẩm sinh có khoảng 1% sinh ra sinh ra một đứa trẻ có khuyết tật tim mạch.
 
Các bác sĩ khuyến cáo rằng bất kỳ người phụ nữ có một khuyết tật tim bẩm sinh, sửa chữa hay không, người đang mang thai hãy thảo luận cẩn thận trước với bác sĩ tim mạch. Điều này đặc biệt quan trọng nếu đang dùng thuốc. Nó cũng quan trọng để tham vấn cả bác sĩ sản khoa và bác sĩ tim mạch trong thai kỳ.

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: