Xơ vữa động mạch

14/11/2016 09:47:45
WHO định nghĩa:'Xơ vữa động mạch là sự phối hợp các hiện tượng thay đổi cấu trúc nội mạc của các động mạch lớn và vừa...
WHO định nghĩa:'Xơ vữa động mạch là sự phối hợp các hiện tượng thay đổi cấu trúc nội mạc của các động mạch lớn và vừa...
 
Nói chung xơ vữa động mạch là hiện tượng xơ hóa thành động mạch bao gồm các động mạch trung bình và động mạch lớn. Biểu hiện chủ yếu là sự lắng đọng mỡ và các màng tế bào tại lớp bao trong thành động mạch gọi là mảng vữa.
 
Tại Mỹ, ở người trên 60 tuổi có 88% xơ vữa động mạch, ở người già hơn thì không người nào không bị xơ vữa động mạch. Bệnh tuy vậy vẫn gặp ở người trẻ.
 
Trên 300 lính Mỹ tuổi trung bình 22 chết trong chiến tranh ở Triều Tiên, khi mổ tử thi thấy 77% bị xơ vữa động mạch với mức độ nhiều hay ít. Ở nước ta chưa có số liệu toàn dân.
 
Xơ vữa động mạch là một bệnh diễn tiến chậm, âm thầm và thường không có dấu hiệu ban đầu nên hầu hết người bệnh đều không biết mình có bệnh cho đến khi động mạch bị hẹp một cách trầm trọng hoặc bị tắc hoàn toàn một động mạch.
 
Nguy hiểm hơn, đến khi phải đi cấp cứu khẩn cấp như đau tim hay đột quỵ bệnh nhân mới biết mình bị bệnh. Một số người chú ý đến sức khỏe có thể phát hiện được các triệu chứng như đau ngực hoặc phát ban.
 
Nhìn chung, các triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào động mạch bị tổn thương. Xơ vữa động mạch cảnh là động mạch cung cấp máu lên não, khi bị hẹp có thể bị đột quỵ với triệu chứng: đột ngột suy yếu, khó thở, nhức đầu, nói khó, tê liệt, nhìn khó một mắt hoặc cả hai mắt.
 
Xơ vữa động mạch vành là động mạch cung cấp máu nuôi tim, nếu sự cung cấp máu đến tim bị thiếu, có thể gây đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, với các triệu chứng: nôn mửa, hốt hoảng, đau ngực, ho…
 
Xơ vữa động mạch thận là động mạch cung cấp máu đến thận, nếu việc cung cấp máu bị hạn chế sẽ gây tổn thương thận mạn tính. Bệnh nhân có các triệu chứng: mất cảm giác ngon miệng, phù bàn tay và bàn chân, khó tập trung…
 
Xơ vữa động mạch ngoại biên là các động mạch chân tay, hay gặp ở động mạch chân bị xơ vữa. Các triệu chứng phổ biến nhất là đau chân ở một hoặc cả hai chân, vị trí ở bắp chân, đùi và mông. Tính chất đau: nặng nề ở chi dưới, chuột rút, các cơ bắp chân. Các triệu chứng khác có thể là: rụng lông chân, ở nam có rối loạn cương dương, tê ở chân, màu sắc của da chân thay đổi, chân yếu…
 
Khám thấy âm thổi đó là một dấu hiệu của mạch máu bị hẹp dẫn tới việc thay đổi dòng chảy trong mạch; giảm huyết áp ở chi; phình mạch ở gối và bụng; mất mạch hoặc giảm cường độ của mạch; siêu âm, chụp cắt lớp thấy tổn thương xơ vữa động mạch.
 
Do thiếu máu làm cho vết thương ở chi lâu lành…
 

Nguyên nhân:

Cấu tạo thành động mạch:
 
Thành động mạch cấu tạo bởi 3 lớp đồng tâm từ trong ra ngoài như sau:
 
Lớp áo trong hay lớp nội mạc: Chỉ có một lớp duy nhất cấu tạo bởi các tế bào nội mạc nằm trong khoảng dưới không có tế bào và ngăn với trung mạc bời lớp đàn hồi trong.
 
Lớp áo giữa hay lớp trung mạc tạo thành bởi những tế bào cơ trơn, sợi collagen và elastin, giới hạn ngoại mạc bởi lớp đàn hồi ngoài.
 
Lớp áo ngoài hay ngoại mạc là lớp mô liên kết có các mạch máu nuôi.
 
Quá trình phát triển xơ vữa động mạch
 
Mảng xơ vữa động mạch được tạo thành do sự dày lên của các thành động mạch bao gồm mạng lưới mô sợi bao bọc xung quanh bởi lớp mỡ phát xuất từ khoảng dưới nội mạc của bao trong.
 
Mảng xơ vữa động mạch gặp chủ yếu ở các thân động mạch lớn (động mạch chủ bụng, động mạch vành, chậu đùi, cảnh và chủ xuống), đặc biệt hay ở những vùng xoáy máu như những chỗ uốn cong hay chẻ đôi.
 
Mảng xơ vữa động mạch xuất hiện sau nhiều năm với những cơ chế mà ngày nay dần dần đã được biết rõ hơn:
 
Giai đoạn đầu do rối loạn huyết động tại chỗ (hiện tượng xoáy máu) làm biến đổi cấu trúc bình thường của lớp trong. Tổn thương xuất hiện sớm nhất là tình trạng phù nề không có mỡ, về sau mới xuất hiện các tế bào ăn mỡ dưới dạng các tế bào có hạt, tụ lại thành đám dưới tế bào nội mô. Giai đoạn này thành mạch bị rối loạn tạo điều kiện cho lắng đọng lipid. Tiếp theo là sự hình thành những vệt mỡ trên bề mặt nội mạc.
 
Giai đoạn hai, mảng vữa đơn thuần xuất hiện. Mảng vữa dày giữa có vùng hoại tử nằm trong một vỏ xơ. Vùng hoại tử chứa rất nhiều axít béo và cholesterol. Mảng xơ vữa tiến triển rất nhanh làm cho động mạch hẹp dần.
 
Giai đoạn sau cùng là sự biến đổi thành mảng vữa gây biến chứng làm tắc nghẽn khẩu kính động mạch và tai biến thiếu máu cục bộ. Hiện tượng chủ yếu của quá trình phát triển này là sự loét của lớp áo trong, nghĩa là lớp tế bào nội mạc bị xé rách, máu sẽ chảy vào qua chổ loét tạo nên cục máu tụ.
 
Sự rách của nội mạc gây nên sự dính của tiều cầu, xuất phát của nghẽn mạch, và tạo thành cục tắc, cục tắc sẽ bao phủ chỗ loét. Đây là khởi đầu của các biến chứng về sau. Các mảng xơ vữa phát triển ngày càng nhiều, các mảng canxi gắn liền nhau, tổ chức xơ phát triển nhiều hơn gây bít tắc động mạch.
 
Những giả thuyết bệnh sinh xơ vữa động mạch
 
Có nhiều giả thuyết đã đề cập nhưng chưa hoàn toàn sáng tỏ.
 
Giả thuyết đáp ứng tổn thương thành động mạch: Lớp nội mạc chịu nhiều tổn thương khác nhau như sự gia tăng cholesterol cao mãn tính hay do chấn thương, thuốc, vi khuẩn, miễn dịch dị ứng, tự miễn. Nội mạc khi bị tổn thương sẽ làm cho đơn bào gắn vào nội mạc, di chuyển xuyên qua nội mạc và chuyển thành đại thực bào. Đại thực bào có khả năng bắt giữ các hạt lipid, nhất là LDL đã biến đổi. Sự hiện diện của đại thực bào làm gia tăng tổn thương lớp nội mạc.
 
Giả thuyết tế bào: Sự xâm nhập vào thành động mạch của bạch cầu đơn nhân mất khả năng thực bào làm tổn thương hoặc kích thích phát triển các tế bào cơ trơn, đại thực bào, tổ chức liên kết, phát triển những vùng tổn thương từ đó gây xơ vữa động mạch như thuyết tổn thương đã nêu.
 
Giả thuyết về ti lạp thể: Các men ti thể tế bào ở thành mạch có thể gây thoái hoá và tích tụ mỡ ở tế bào cơ trơn nhất là men cholesterol ester hydrolase.
 
Giải thuyết đơn dòng: Tại nơi tổn thương nội mạc động mạch sản sinh những dạng isozyme kích thích phát triển tế bào cơ trơn của thành mạch giống cơ chế tạo u lành tính, sau đó là quá trình tạo xơ vữa.
 
Giả thuyết về tăng lipid: Đây là giả thuyết được nhiều người công nhận nhất vì:
 
Có thể gây xơ vữa động mạch trên thực nghiệm động mạch với chế độ ăn nhiều mỡ và cholesterol.
 
Những người có nồng độ lipid máu cao hay bị xơ vữa động mạch hơn những người bình thường thành phần cấu trúc của màng xơ vữa động mạch chủ yếu là lipid.
 
Ngoài ra hiện nay nhiều tác giả còn đưa ra giả thuyết mới về cơ chế bệnh sinh xơ vữa liên quan đến vai trò nhiễm trùng như Helicobacter pylori, Clamydia pneumonia, Cytomegalovirus.

Các yếu tố, nguy cơ:

Tăng lipid máu: Hầu hết các khảo sát dịch tễ học đều xác nhận tăng cholesterol máu là nguy cơ chính xơ vữa động mạch.
 
Cholesterol có vai trò quan trọng đối với bệnh sinh xơ vữa động mạch. Có thể nói rằng bất kỳ sự gia tăng LDL cholesterol mức độ nào trong máu đều có nguy cơ gây xơ vữa động mạch. Lipoprotein (a) hay Lp(a) cũng là yếu tố nguy cơ cao khi vượt quá 0,3 g/l.
 
Chylomicron hình như ít có ý nghĩa trong việc gây xơ vữa động mạch một phần vì nó hiện diện cả trong điều kiện sinh lý, một phần người ta hiếm thấy sự gia tăng xơ vữa động mạch song song với sự gia tăng chylomicron.
 
HDL cholesterol ngược lại là yếu tố chống xơ vữa cao vì chúng vận chuyển cholesterol về gan trong điều kiện thành động mạch quá thừa cholesterol, do đó còn gọi chúng là những cholesterol tốt.
 
Các yếu tố nguy cơ khác
 
- Tăng huyết áp: Là yếu tố nguy cơ rất cao, nhất là đối với các mạch máu não. Huyết áp cao làm tăng sinh tế bào cơ trơn làm dày trung mạc động mạch và làm gia tăng chất elastin, chất keo và glycosaminoglycans. Áp lực do huyết áp cao tạo ra cũng làm dễ vỡ mảng xơ vữa cũng như làm gia tăng tính thấm nội mạc đối với cholesterol.
 
- Hút thuốc: cũng là yếu tố nguy cơ chính, nguy cơ mạch vành tăng gấp đôi ở người hút thuốc, nhất là những người hút 40 điếu/ngày.
 
- Đái tháo đường: là nguyên nhân gây rối loạn lipid, nên dễ gây xơ vữa động mạch.
 
- Béo phì, ít hoạt động.
 
- Stress.
 
- Các thuốc ngừa thai.

Triệu chứng, biểu hiện:

Diễn tiến triệu chứng lâm sàng thường trải qua 3 giai đoạn:
 
Giai đoạn tiềm tàng: Chưa có biểu hiện lâm sàng.
 
Giai đoạn lâm sàng: Có các triệu chứng thiếu máu cơ quan điển hình.
 
Giai đoạn biến chứng các cơ quan do sự thiếu máu cục bộ gây ra. Triệu chứng thường phụ thuộc vào các cơ quan bị tổn thương.
 
Xơ vữa động mạch chủ
 
Hay gặp theo thứ tự là gốc động mạch chủ, động mạch ngực, động mạch chủ bụng nhất là nơi phân chia động mạch chậu.
 
Đau thắt ngực nếu có tổn thương xơ vữa động mạch vành.
 
Nếu tổn thương động mạch chủ: các triệu chứng lâm sàng là triệu chứng hở van động mạch chủ hay hẹp động mạch chủ hoặc phối hợp.
 
Bóc tách động mạch chủ: nếu nặng có trạng thái đau thắt ngực dễ nhầm nhồi máu cơ tim nhưng không đáp ứng thuốc giãn mạch vành trừ Morphine.
 
Xơ vữa động mạch bụng
 
Giai đoạn đầu: nhẹ chỉ có rối loạn tiêu hóa, về sau đau bụng về đêm, sau ăn.
 
Khi nặng hay hẹp nặng: có thể gây xuất huyết hay thủng dạ dày, hoại tử mạc treo, ruột.
 
Khám có thể phát hiện động mạch chủ phình giãn và biến chứng nặng dễ vỡ gây tràn máu ổ bụng, tử vong.
 
Chẩn đoán cần phối hợp siêu âm, siêu âm Doppler và nhất là chụp động mạch chủ bụng.
 
Xơ vữa động mạch não
 
Biểu hiện sớm là tình trạng thiếu máu xoang, ù tai, rối loạn trí nhớ, mau quên; về sau lú lẫn, không tập trung được, mất ngủ. Biến chứng nặng nề là tắc mạch máu não gây liệt nửa thân, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn ý thức hay xấu hơn là hôn mê.
 
Xơ vữa động mạch vành
 
Với các biểu hiện của suy vành mạn tính, hay cấp tính như nhồi máu cơ tim
 
Xơ vữa động mạch thận
 
Thiếu máu thận lâu ngày làm xơ hóa, tăng huyết áp do hẹp động mạch thận. Xác định chẩn đoán cần dựa vào xét nghiệm nước tiểu, siêu âm, chụp mạch thận hay sinh thiết thận.
 
Xơ vữa động mạch chi dưới
 
Tổn thương gặp ở hầu hết các động mạch, trừ động mạch mu bàn chân ít gặp hơn. Triệu chứng thiếu máu chi thường gặp với: tê lạnh hai chân, cơn đau cách hồi, huyết áp hai chân chênh lệch hay không bắt mạch được bên tắc mạch. Biến chứng về sau có thể gây hoại tử. Chẩn đoán cần dựa vào siêu âm Doppler, chụp động mạch.
 
Phân độ xơ vữa động mạch theo Fontaine có 4 giai đoạn:
 
Giai đoạn 1: Không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng.
 
Giai đoạn 2: Có cơn đau cách hồi gồm hai mức độ:
 
Giai đoạn 3: Cơn đau cách hồi xuất hiện khi nghỉ ngơi.
 
Giai đoạn 4: Hoại tử các đầu chi.
 
Xơ vữa động mạch nơi khác
 
Động mạch thái dương: Gây nhức đầu như bệnh Horton hay đau nửa đầu Migrain.
 
Động mạch đáy mắt: Gây rối loạn thị giác.
 
Động mạch hạ khâu não tuyến yên: Gây đái tháo nhạt.
 
Động mạch tụy: Gây đái tháo đường.

Chẩn đoán bệnh:

- Các rối loạn cơ năng do thiếu máu cục bộ cơ quan hoặc ngoại biên.
 
- Sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ.
 
- Tình trạng động mạch ngoại biên.
 
- Kết quả xét nghiệm: soi đáy mắt, xét nghiệm lipid, chụp động mạch cản quang, siêu âm doppler.
 
Bác sĩ sẽ chẩn đoán xơ vữa động mạch dựa vào các yếu tố:
   
 - Tiền sử bệnh tật và gia đình
 
 - Yếu tố nguy cơ
 
-  Kết quả khám lâm sàng và các xét nghiệm

Phòng ngừa:

Dự phòng tiên phát:
 
- Nhằm dự phòng sớm kể cả khi mới sinh: Bảo đảm chế độ sữa mẹ, tránh các thức ăn làm tăng lipid như đường và tinh bột.
 
- Giảm muối trong chế độ ăn nhằm làm giảm tăng huyết áp. Đảm bảo chế độ ăn nhiều rau quả, nên ăn nhiều cá tươi. Không hút thuốc lá.
 
- Có chế độ luyện tập dự phòng béo phì. Tập thể dục tùy theo mức độ đều có tác dụng chống tăng lipoprotein có hại.
 
- Sinh đẻ kế hoạch, tránh tăng cân sau sinh.
 
Dự phòng thứ phát:
 
- Cho các bệnh nhân đã bị biến chứng xơ vữa động mạch.
 
- Điều trị tích cực các nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ gây bệnh như thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, giảm stress, tăng cường hoạt động thể lực.
 
- Theo dõi và điều trị các biến chứng tại các trung tâm đều đặn, có theo dõi nhằm tránh tái phát.

Điều trị:

Nguyên tắc điều trị
 
Có 3 mục đích chính
 
Điều trị các yếu tố nguy cơ chính: rối loạn lipid, đái tháo đưòng, tăng huyết áp, thuốc lá trước khi có các triệu chứng (phòng bệnh sơ cấp) hoặc sau khi có các triệu chứng (phòng bệnh thứ cấp).
 
Điều trị các biến chứng xơ vữa động mạch sơ cấp và thứ cấp (điều trị chống ngưng kết tiểu cầu).
 
Điều trị đặc hiệu tổn thương: Một số nguy cơ phối hợp song song cần điều trị như: điều trị thay thế hormon trong tiền mãn kinh, chế độ ăn kiêng trong béo phì, tăng hoạt động thể lực.
 
Thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn bêta:
 
Nhiều nghiên cứu cho thấy hai thuốc này có thể giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và bệnh tim do thiếu máu cục bộ nói chung. Ví dụ thuốc ức chế men chuyển giảm từ 14% đến 28% biến cố tim mạch; thuốc chẹn bêta giảm tỉ lệ tử vong sau nhồi máu cơ tim 20%, giảm tái phát nhồi máu 25% và giảm đột tử 30%.
 
Điều trị tăng lipid máu:
 
Điều trị xơ vữa động mạch là một điều trị toàn diện bao gồm nhiều biện pháp nội khoa và ngoại khoa, tuy vậy một trong những mục tiêu cơ bản vẫn là thoái triển mảng xơ vữa có sự lắng đọng lipid, giảm đi các thành phần lipoprotein máu có hại.
 
Phân loại tăng lipid máu theo Friedrickson. Là phân loại thông dụng nhất, kinh điển. Có 5 thể:
 
Loại 1: Tăng chủ yếu chylomicron, tỉ số TG/CT > 2,5.
 
Loại 2: Chia làm 2 thể: thể IIa: tăng LDL-C với tỉ số TC/TG >2,5 và thể IIb: tăng cả LDL-C và HDL-C, tỉ số TG/TC hoặc TC/TG <2,5.
 
Loại 3: Ít gặp, tăng IDL-C, tỉ số TG/TC< 2,5.
 
Loại 4: Tăng VLDL-C, tỉ số TG/TC > 2,5
 
Loại 5: Hiếm, tăng cả chylomicron và VLDL-C.
 
Trong các thể trên thể cần điều trị là IIa, IIb và thể IV do nguy cơ gây xơ vữa động mạch cao.
 
Thuốc giảm lipid máu
 
Gồm 4 nhóm chính:
 
Nhóm 1: Là các chất bắt giữ muối mật. Tác dụng chính là giảm LDL-C. Đây là những resin trao đổi ion gắn với muối mật trong ruột non làm gián đoạn sự lưu hành muối mật trong chu trình gan ruột và kích thích sự chuyển cholesterol thành muối mật trong gan.
 
Điều này sẽ kích thích sự tạo thành các thụ thể LDL do đó sẽ làm giảm LDL huyết thanh. Đứng đầu nhóm là cholestyramine (Questran), giảm cholesterol 15-30% và triglycerid từ 5-15% với liều dùng 4-16 g/ngày. Colestipol liều 5-20 g/ngày.
 
Tác dụng phụ: táo bón, đầy bụng, buồn nôn.
 
Nhóm 2: Các fibrate có tác dụng tăng hoạt tính lipoprotein lipase làm gia tăng quá trình thoái biến VLDL-C và IDL-C do đó giảm triglycerid. Ưu điểm là HDL -C gia tăng khi xử dụng fibrate. Thuốc thông dụng như fenofibrate (Lipanthyl) làm giảm CT (15-30%) và TG (15- 30%), liều từ 100-300mg/ ngày. Gemfibrozil 600 mgx 2lần/ngày hoặc Clofibrate 500mg x 2-3 lần/ngày.
 
Tác dụng phụ bao gồm rối loạn tiêu hoá, gia tăng tạo sỏi mật.
 
Nhóm 3: Có axít nicotinic và dẫn chất. Tác dụng khi dùng liều cao. Có tác dụng giảm sự tạo thành VLDL trong gan do đó giảm HDL. Axít nicotinic giảm CT (5-15%) và TG (15-30%) và làm gia tăng cả HDL-C. Thuốc thông dụng là probucol (Lurselle) liều 0,3-0,6g/ ngày.
 
Tác dụng phụ: phừng mặt, tăng dường máu, tăng acid uric máu, rối loạn tiêu hoá, độc cho gan. Cần theo dõi chức năng gan khi điều trị. Phừng mặt có thể khống chế bằng aspirin.
 
Nhóm 4: Là các statin, làm giảm CT >30-50 % và TG 15-50%. Đây là nhóm thuốc có tác dụng mạnh hạ cholesterol máu. Cơ chế tác dụng là ức chế men HMG CoE reductase làm ngăn cản quá trình chuyển hoá tạo cholesterol nội bào. Ức chế quá trình này sẽ làm gia tăng tổng hợp thụ thể LDL do đó sẽ làm giảm cholesterol huyết thanh.
 
Thuốc thông dụng là Fluvastatine liều 20-40mg/ngày, Lovastatine 10- 80mg/ngày, Pravastatin 10-40mg/ngày, Simvastatin 5-40 mg/ngày.
 
Tác dụng phụ bao gồm khó tiêu, bón, đau bụng, co rút và có thể độc với gan nên cần theo dõi men gan.
 
Thuốc chống ôxy hóa
 
Như các vitamin A, C, E, dầu gan cá.
 
Thuốc giãn mạch:
 
Papaverine 0,04g x 2-4 viên/ ngày, Hydergine 3-6mg/ngày, Tegretol 100mg x 3-6 viên/ ngày. Ngoài ra còn có nhiều chế phẩm tương tự có thể áp dụng Vastarel, Fonzylane, Praxilen, Torental, Sermion, Trivastal, Cervoxan.
 
Điều trị ngoại khoa
 
Phẫu thuật lấy bỏ cục nghẽn hoặc nong động mạch bằng bóng kết hợp đặt stent, bắc cầu qua chỗ tắt.
 
Phòng ngừa cục máu đông
 
Cục máu đông tạo thành trên mảng xơ vữa động mạch làm cho tiến triển bệnh nhanh và gây ra các biến chứng như mạch vành. Aspirin có hiệu quả trong phòng ngừa tái phát nhồi máu cơ tim cấp, liều dùng 100mg/ngày đơn thuần hoặc phối hợp dipyridamol (Persantine) liều 75-150 mg/ngày.

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

Thay đổi chế độ ăn:
 
Nếu bạn bị bệnh mạch vành, cần hạn chế chất béo trong chế độ ăn – nhất là các loại mỡ bão hòa – và hạn chế cholesterol, nhằm giảm nồng độ cholesterol máu – một nguyên nhân chủ yếu của xơ vữa động mạch. Giảm cholesterol còn giúp ngăn ngừa những cơn nhồi máu tái phát trên những người đã từng bị nhồi máu cơ tim.
 
Ăn ít mỡ giúp bạn giảm cân nặng.
 
Nếu bạn bị thừa cân, việc giảm cân nặng còn giúp giảm cholesterol máu.
 
Ăn nhiều trái cây, rau xanh và ít nhất là hai bữa ăn có cá mỗi tuần cũng có thể giúp bạn giảm được nguy cơ nhồi máu cơ tim và giảm cân nặng.
 
Điều trị và phòng ngừa
 
Những người bị bệnh không nên quá lo lắng sợ hãi, hãy bình tĩnh áp dụng ngay việc điều trị không dùng thuốc, bao gồm hai điều cơ bản:
 
Kiêng cữ trong ăn uống: Giảm ăn mỡ bão hòa (mỡ động vật, bơ, dầu dừa…), nếu không kiêng được tuyệt đối thì tránh ăn quá 1/3 mỡ bão hòa trong nhu cầu chất béo hàng ngày. Giảm ăn các chất có chứa nhiều cholesterol như phủ tạng động vật (não, bầu dục, tim, gan…).
 
Riêng với lòng đỏ trứng gà tuy cũng nhiều cholesterol nhưng đồng thời có nhiều lecithin là một chất điều hòa chuyển hóa cholesterol trong cơ thể, do đó không nhất thiết kiêng hẳn, mà có thể ăn 2-3 quả trứng một tuần.
 
Với người thừa cân thì cần thiết phải giảm cân nặng. Nên ăn nhiều rau quả tươi, uống nước chè xanh. Không uống nhiều rượu bia, không hút thuốc lá vì nó thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch và làm tăng cholesterol xấu.
 
Chế độ dinh dưỡng
 
Một chế độ ăn uống lành mạnh có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh xơ vữa động mạch. Giảm xơ vữa động mạch cũng là một cách bảo vệ trái tim. Việc áp dụng một chiến lược dinh dưỡng lành mạnh cho tim có thể làm giảm cholesterol xấu, ngăn ngừa bệnh huyết áp cao, tiểu đường, và trọng lượng cơ thể. Dưới đây là một số thực phẩm nên và không nên ăn đối với bệnh xơ vữa động mạch.
 
Chế độ dinh dưỡng cần thiết:
 
Cá: Nên ăn nhiều cá, cá cung cấp protein và dưỡng chất cần thiết cho cơ thể. Cá chứa các axit béo omega-3 có thể giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ. Nên ăn 2 đến 3 bữa cá mỗi tuần.
 
Ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, và đậu. Đây là nguồn cung cấp vitamin, carbohydrate dồi dào cho cơ thể. Đây là nguồn dinh dưỡng tự nhiên, có lợi cho cơ thể.
 
Hạn chế tổng số gram chất béo đưa vào cơ thể mỗi ngày.
 
Chất béo trans: Ăn ở mức tối thiểu chất béo trans và không quá 7% đến 10% lượng calo từ chất béo bão hòa (ví dụ, chất béo tìm thấy trong bơ, các loại thức ăn chiên xào, thực phẩm ăn nhẹ, đồ ngọt, và món tráng miệng).
 
Protein: Một lượng vừa phải protein từ các loại thịt và các sản phẩm từ sữa sẽ giúp giảm xơ vữa động mạch và nguy cơ phát triển bệnh tim mạch. Nên bổ sung các loại protein từ thực vật và các loại cá.
 
Cholesterol: Hạn chế cholesterol trong chế độ ăn uống được khuyến cáo trong hầu hết các hướng dẫn về dinh dưỡng. Nên cung cấp năng lượng cho cơ thể bằng cách ăn carbohydrate từ các loại ngũ cốc nguyên hạt, khoai lang, mì. Không nên tiêu thụ quá 300mg cholesterol mỗi ngày.
 
Nước: thanh lọc cơ thể, giải độc.
 
Muối: Giảm lượng muối giúp tránh các bệnh huyết áp, thận.
 
Ngoài một chế độ ăn uống lành mạnh để phòng bệnh xơ vữa động mạch nên tập thể dục thường xuyên giúp tăng cường cơ tim, cải thiện lưu lượng máu, giảm huyết áp cao, làm tăng cholesterol tốt giúp kiểm soát lượng đường trong máu và trong cơ thể..

Bài thuốc dân gian: