Sởi

14/11/2016 09:47:43
Theo dân gian, bệnh sởi còn được gọi là bệnh đau ban đỏ.
Theo dân gian, bệnh sởi còn được gọi là bệnh đau ban đỏ.
 
 Tác nhân gây bệnh sởi thuộc nhóm ARN giống virút Mobilli của họ Paramyxoviridae Influenzae. Người là nguồn bệnh chủ yếu nhưng có thể gặp ở khỉ. Không có trung gian truyền bệnh, không có virút tiềm ẩn lây truyền, chỉ có 1 týp huyết thanh, và thuốc chủng ngừa có hiệu quả.
 
Đường lây truyền chủ yếu là đường hô hấp như: nước bọt , hắt hơi, sổ mũi hoặc do hít phải mầm bệnh từ môi trường bên ngoài của bệnh (do mầm bệnh có thể tồn tại ngoài môi trường hơn 1 giờ).
 
Sởi là bệnh truyền nhiễm có tính lây truyền cao nhất và tính miễn dịch quần thể trong nhân dân cần phải đạt tới 94% mới có thể cắt đứt được sự lây truyền của bệnh trong cộng đồng.
 

Nguyên nhân:

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Từ lúc bị nhiễm siêu vi trùng đến lúc có triệu chứng bệnh trung bình là 10 ngày (có thể thay đổi từ 7 đến 18 ngày), trẻ có thể sốt nhẹ.
 
Có thể chia làm các giai đoạn :
 
- Thời kỳ ủ bệnh: (từ lúc bị nhiễm siêu vi trùng đến lúc có triệu chứng bệnh) Trung bình là 10 ngày (có thể thay đổi từ 7 đến 18 ngày): trẻ có thể sốt nhẹ.
 
- Thời kỳ khởi phát (còn gọi là thời kỳ viêm long): Đây là thời kỳ hay lây nhất, kéo dài từ 3 đến 5 ngày với các biểu hiện như sau:
 
Sốt: Sốt nhẹ hoặc sốt cao 39,5-40 độ C, có thể có sốt cao co giật, kèm mệt mỏi, nhức đầu, đau cơ đau khớp.
 
'Viêm long' (có triệu chứng giống như cảm cúm): thường xảy ra ở mắt và mũi, gây chảy nước mắt, nhiều dử, kết mạc mắt đỏ, bệnh nhân sợ ánh sáng, giác mạc và mi mắt có thể bị sưng phù, hắt hơi, sổ mũi, ho đàm, khàn giọng. Có thể gây viêm thanh quản co rút, nếu có triệu chứng viêm long ở đường tiêu hóa sẽ gây tiêu chảy.
 
Khám họng trong giai đoạn này có thể thấy những chấm trắng nhỏ khoảng 1mm mọc trên nền niêm mạc má viêm đỏ, có vị trí ngay với răng hàm thứ nhất, đó là dấu “Koplik” - rất có giá trị để giúp chẩn đoán khi phát ban. Thời gian tồn tại của dấu hiệu này khoảng 12 đến 18 giờ.
 
- Thời kỳ toàn phát (hay còn gọi là thời kỳ phát ban):
 
Ban xuất hiện đầu tiên ở sau tai, sau đó lan dần lên 2 bên má, cổ, ngực, bụng và phần chi trên trong vòng 24 giờ. Trong 24 giờ kế tiếp, ban lan xuống lưng, bụng, 2 tay và sau cùng là 2 chân trong từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 của bệnh.
 
Ban sởi màu hồng nhạt, ấn vào mất, thường kết dính lại. Trong trường hợp nhẹ, ban mọc thưa thớt. Đối với những trường hợp nặng, ban mọc dày đặc cả lòng bàn tay, bàn chân, đôi khi có ban xuất huyết cơ thể kèm chảy máu mũi, miệng, xuất huyết tiêu hóa.
 
- Thời kỳ phục hồi: Ban sởi bay theo trình tự xuất hiện để lại vùng da bị ảnh hưởng những vết thâm đen trên bề mặt da loang lỗ như da cọp nên được gọi là 'vết vằn da hổ'
 
Chẩn đoán sởi chủ yếu dựa vào lâm sàng là triệu chứng viêm họng với phát ban theo trình tự xuất hiện và khám họng thấy có dấu 'Koplik' với tiền sử thường gặp ở trẻ dưới 10 tuổi chưa mắc sởi lần nào, có tiếp xúc với  nguồn lây trong 10 ngày trước đó. Cũng có thể gặp các cháu sống trong tập thể nhà trẻ, trường học và gia đình có người thân mắc bệnh tương tự.

Chẩn đoán bệnh:

Lâm sàng:
 
Thể điển hình
 
-  Giai đoạn ủ bệnh: 10-14 ngày.
 
- Giai đoạn khởi phát: 2-4 ngày. Bệnh nhân sốt cao, viêm long đường hô hấp trên và viêm kết mạc, đôi khi có viêm thanh quản cấp, có thể thấy hạt Koplik là các hạt nhỏ 0,5-1mm màu trắng có quầng ban đỏ ở trên niêm mạc miệng.
 
- Giai đoạn toàn phát: Kéo dài 2-5 ngày. Thường sau khi sốt cao 3-4 ngày, bệnh nhân bắt đầu phát ban, xuất hiện từ sau tai, sau gáy, trán, mặt, cổ dần lan đến thân mình và tứ chi, cả ở lòng bàn tay và gan bàn chân, ban hồng dát sẩn, khi căng da thì ban biến mất. Khi ban mọc hết toàn thân thì thân nhiệt giảm dần.
 
- Giai đoạn hồi phục: Ban nhạt dần rồi sang màu xám, bong vảy phấn sẫm màu. Nếu không xuất hiện biến chứng thì bệnh tự khỏi. Có thể có ho kéo dài 1-2 tuần sau khi hết ban.
 
Thể không điển hình
 
- Biểu hiện lâm sàng có thể sốt nhẹ thoáng qua, viêm long nhẹ và phát ban ít, toàn trạng tốt. Thể này dễ bị bỏ qua, dẫn đến lây lan bệnh mà không biết.
 
- Bệnh nhân cũng có thể sốt cao liên tục, phát ban ít không điển hình, phù nề tứ chi, đau mỏi toàn thân, thường có viêm phổi nặng kèm theo. Xét nghiệm có thể có tăng men gan.
 
Cận lâm sàng
 
- Xét nghiệm cơ bản: Công thức máu thường thấy giảm bạch cầu, giảm bạch cầu lympho và có thể giảm tiểu cầu. Xquang phổi có thể thấy viêm phổi kẽ, có thể tổn thương nhu mô phổi khi có bội nhiễm.
 
- Xét nghiệm phát hiện virus: Xét nghiệm huyết thanh học: Lấy máu kể từ ngày thứ 3 sau khi phát ban tìm kháng thể IgM. Những nơi chỉ làm được IgG thì lấy hai mẫu huyết thanh giai đoạn cấp và giai đoạn hồi phục để xác định hiệu giá kháng thể. Hiệu giá kháng thể lần 2 cao gấp ít nhất 4 lần so với lần đầu. Phân lập virus, phản ứng khuếch đại gen (RT-PCR) nếu có điều kiện.
 
Chẩn đoán xác định
 
- Yếu tố dịch tễ: Có nhiều người mắc bệnh cùng lúc trong gia đình hoặc trên địa bàn dân cư.
 
- Lâm sàng: Sốt, viêm long và phát ban đặc trưng của bệnh sởi.
 
- Xét nghiệm phát hiện có kháng thể IgM đối với virus sởi.
 
- Chẩn đoán phân biệt: Cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có phát ban dạng sởi:
 
+ Rubella: Phát ban không có trình tự, ít khi có viêm long.
 
+ Nhiễm enterovirus: Phát ban không có trình tự, hay kèm rối loạn tiêu hóa.
 
+ Bệnh do Mycoplasma pneumoniae: Sốt nhẹ, đau đầu và viêm phổi không điển hình.
 
+ Sốt mò: Có vết loét hoại tử do côn trùng đốt.
 
+ Phát ban mùa xuân trẻ em: Thường gặp ở trẻ 6 tháng đến 2 tuổi, khởi đầu là tình trạng nhiễm khuẩn rồi có biểu hiện thần kinh, sau khi hết sốt thì ban mới mọc.
 
+ Ban dị ứng: Kèm theo ngứa, tăng bạch cầu ái toan.
 
+ Nhiễm virus Epstein - Barr: Hay kèm theo tăng bạch cầu đơn nhân.

Phòng ngừa:

- Dùng khăn hoặc tay che miệng khi ho, hắt hơi.
 
- Rửa tay trước khi ăn và trước khi chế biến thức ăn.
 
- Tiêm phòng sởi. Đây là biện pháp chủ động để ngừa bệnh sởi.
 
Trẻ được chích ngừa vaccine sống giảm độc liều 1 lần, thường vào tháng thứ 9 (theo lịch Chương trình tiêu chảy Quốc gia).
 
Do miễn dịch bảo vệ của vaccine chỉ đạt được 90%) và với sự giảm miễn dịch dần theo thời gian, nên chích ngừa mũi thứ 2 cho trẻ < 10 tuổi.
 
Hiện tại đã có loại vaccine phối hợp 3 bệnh: sởi, quai bị và Rulella (MMR hay Trimovax). Các bậc phụ huynh nếu có nhu cầu tiêm ngừa nên phối hợp tiêm phòng 03 bệnh sởi - quai bị - Rubella cho con em mình.

Điều trị:

Chủ yếu là điều trị nâng đỡ, hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Nên cho trẻ nghỉ ngơi, tránh tiếp xúc với ánh sáng mạnh trong giai đoạn sợ ánh sáng, nên cho trẻ ăn chế độ giàu chất dinh dưỡng và dễ tiêu hóa, giữ gìn vệ sinh răng miệng.
 
- Nếu bé sốt cao, dùng Acetaminophene 15 mg/kg/lần, ngày 4 lần và cho uống nhiều nước. Kết hợp với các biện pháp như: lau mát tích cực.
 
- Vitamin A cho trẻ < 1 tuổi: 100.000 đơn vị; trẻ > 1 tuổi: 200.000 đơn vị.
 
Điều trị các biến chứng
 
Điều trị kháng sinh nếu có bội nhiễm vi khuẩn.
 
Hạn chế truyền dịch nếu bệnh nhân có biến chứng viêm phổi, viêm não hoặc viêm cơ tim.
 
Trường hợp viêm não màng não cấp tính: tích cực điều trị hỗ trợ duy trì chức năng sống. Chống co giật: Phenobarbital 10 - 20 mg/kg pha trong glucose 5%, truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút. Lặp lại 8 - 12 giờ nếu cần.
 
Có thể dùng diazepam đối với người lớn 10 mg/lần, tiêm tĩnh mạch. Chống phù não: nằm đầu cao 30 độ, cổ thẳng (nếu không có tụt huyết áp); thở ôxy qua mũi 1 - 4 lít/phút, có thể thở ôxy qua mask hoặc thở CPAP nếu bệnh nhân còn tự thở được. Đặt nội khí quản sớm để giúp thở khi điểm Glasgow < 12 điểm hoặc SpO2 < 92% hay PaCO2 > 50mmHg.
 
Thở máy khi Glasgow < 10 điểm; mannitol 20% liều 0,5 - 1g/kg, 6 - 8 giờ/lần, truyền tĩnh mạch trong 15 - 30 phút. Chống suy hô hấp (suy hô hấp do phù phổi cấp, hoặc viêm não): Thông đường thở: hút sạch đờm dãi; thở ôxy 3 - 6 lít/phút, duy trì SpO2 > 92%; Đặt nội khí quản, thở máy nếu có cơn ngừng thở hoặc thất bại với thở ôxy;
 
Có thể dùng dexamethason 0,5mg/kg/ngày tiêm tĩnh mạch chia 4 - 6 lần trong 3 - 5 ngày. Nên dùng thuốc sớm ngay sau khi bệnh nhân có rối loạn ý thức. Dùng thêm immunoglobulin đa giá nếu có điều kiện, liều dùng 0,1 - 0,4g/kg/ngày truyền tĩnh mạch trong 6 - 8 giờ trong 2 - 5 ngày liên tiếp.

Biến chứng:

Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm trong hoặc sau khi mắc bệnh sởi.
 
1. Viêm phổi: Thường là do bội nhiễm vi trùng khác như: phế cầu, liên cầu, tụ cầu Hemophilus Influenzae.
 
2. Lao: Sởi làm tăng nguy cơ trầm trọng bệnh lao tiềm ẩn và làm tăng mức độ lao sơ nhiễm.
 
3. Viêm tai giữa: Sốt cao, quấy khóc, chảy mủ 1 hoặc 2 bên tai.
 
4. Viêm thanh quản: Có thể kèm cơn khó thở về đêm, ho hen, khàn giọng, nếu nặng có thể khó thở thanh quản.
 
5. Viêm não tủy (0,1 – 0,2%): Có thể xảy ra sớm hơn 2 tuần với triệu chứng sốt cao, nôn ói, nhức đầu, lơ mơ, co giật.
 
6. Xuất huyết giảm tiểu cầu: Thường xảy ra từ ngày 3 đến ngày 5.
 
7. Một số chứng bệnh khác:
 
· Viêm kết mạc mắt, dẫn đến loét giác mạc do thiếu vitamin A dẫn đến mù.
 
· Viêm cơ tim
 
· Viêm loét niêm mạc má, miệng (dân giang còn gọi là cam tẩu mã)
 
· Viêm hạch mạc trên ruột, gây đau bụng
 
· Viêm gan: gây vàng da, tăng men gan (chủ yếu gặp ở người lớn)
 
· Viêm tiểu cầu thận cấp
 
· Hội chứng Guillain Barré.

Chế độ chăm sóc:

Chăm sóc tại nhà nếu dấu hiệu bệnh nhẹ, không có biến chứng
 
- Theo dõi nhiệt độ hàng ngày.
 
- Nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng dung dịch nước muối 9‰ để tránh nhiễm khuẩn.
 
- Tắm rửa sạch bằng nước ấm để tránh nhiễm trùng và lở loét.
 
- Dinh dưỡng đầy đủ, thức ăn dễ tiêu và giàu dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin A.
 
- Nên nằm phòng riêng (thoáng, sáng, tránh gió lùa).
 
- Chỉ dùng thuốc kháng sinh khi có chỉ định của thầy thuốc.
 
- Đưa đến cơ sở y tế ngay khi các dấu hiệu nặng lên:
 
- Sốt cao, ho nhiều, tiêu chảy nặng…
 
- Ban sởi lặn hết mà vẫn còn sốt.
 
- Các dấu hiệu biến chứng về tai, phổi, tiêu hóa, mắt…

Bài thuốc dân gian: