Thủy đậu

14/11/2016 09:47:43

Bệnh thủy đậu (còn gọi là trái rạ) do một loại siêu vi mang tên Varicella Zoster Virus (VZV) gây nên.

Bệnh thủy đậu là bệnh gì?
 
Bệnh thủy đậu (còn gọi là trái rạ) do một loại siêu vi mang tên Varicella Zoster Virus (VZV) gây nên.
 
Thủy đậu là một bệnh rất dễ lây truyền: Khi 1 người mang siêu vi thủy đậu nói, hắt hơi, sổ mũi hoặc ho... thì các siêu vi đó theo nước bọt, nước mũi bắn ra ngoài tan thành bụi. Người khác hít phải bụi đó sẽ lây bệnh ngay.
 
Thông thường, từ lúc nhiễm phải siêu vi, đến lúc phát ra bệnh - được gọi là thời gian nung bệnh hoặc ủ bệnh - là khoảng 2-3 tuần. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, trẻ em mắc nhiều hơn người lớn và thường nhẹ hơn người lớn.
 
Bệnh lây lan như thế nào?
 
Bệnh rất truyền nhiễm và lây lan qua sự đụng chạm đến ban ngứa từ người bị thuỷ đậu hoặc qua những giọt nước nhỏ trong không khí từ miệng hay mũi của một người bị nhiễm (ví dụ, khi một người bị nhiễm hắt hơi, sổ mũi hoặc ho).
 
Bệnh cũng có thể lây lan qua sự tiếp xúc với quần áo hoặc ga trải giường bị ô nhiễm bởi chất dịch từ ban ngứa hoặc từ miệng hay mũi của người bị bệnh.
 
Bệnh phát triển trong vòng 10-21 ngày sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh.
 
Bệnh thuỷ đậu có thể lây từ 1-2 ngày trước khi nổi ban ngứa cho đến khi tất cả những vết phồng đã đóng vảy (thông thường trong vòng 5 ngày từ khi những vết phồng nổi lên).
 
Những người có hệ miễn dịch bị suy yếu mà bị thủy đậu thì có thể phải mất một thời gian lâu hơn để những mụn thuỷ đậu của họ đóng vảy.
 
Khoảng 90% những người chưa từng bị thuỷ đậu thì sẽ bị nếu tiếp xúc với nguời thân bị nhiễm bệnh.
 

Nguyên nhân:

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 - 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh. Khởi phát bệnh thường đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước, mụn nước nổi ở vùng đầu mặt, chi và thân.
 
Mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 - 24 giờ có thể nổi toàn thân. Mụn nước có đường kính từ l - 3 mm, chứa dịch trong; tuy nhiên, những trường hợp nặng, mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng thì mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.
 
Ngoài mụn nước, trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn; nhưng ở người lớn hay trẻ lớn, thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn mửa. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 - 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt thủy đậu sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng thì mụn nước có thể để lại sẹo.
 
Ban ngứa có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn bệnh. Sốt nhẹ, nhức đầu và mệt mỏi là điều thông thường.
 
Người bị nhiễm bệnh có thể bị từ chỉ vài mụn thủy đậu cho đến hơn 500 mụn trên thân thể.

Chẩn đoán bệnh:

1. Chẩn đoán xác định dựa vào:
 
- Bệnh khởi phát đột ngột.
 
- Triệu chứng toàn thân nhẹ.
 
- Ban mọc ngay ngày đầu của bệnh, chỉ có nốt phỏng nước, không có mụn mủ (nếu không nhiễm khuẩn).
 
- Ban mọc không tuần tự, mọc nhiều đợt cách nhau 3-4 ngày. Ban mọc cả trong chân tóc. Trên cùng một vùng da, có nhiều tuổi ban khác nhau.
 
- Khi ban lặn, không để lại sẹo vĩnh viễn.
 
- Bạch cầu máu ngoại vi giảm, lympho bào tăng.
 
- Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ chưa bị bệnh.
 
2. Chẩn đoán phân biệt:
 
- Với đậu mùa thể nhẹ và thể cụt, tuy không có mụn mủ, nhưng mụn sẽ mọc theo thứ tự, cùng lứa tuổi. Khi mụn đậu mọc thì nhiệt độ giảm, bạch cầu tăng.
 
Trong một số trường hợp nên dựa vào huyết đồ theo E. Weil:
 
Đậu mùa:
 
Hồng cầu: giảm, có nhân
 
Bạch cầu đa nhân: tăng
 
Tuỷ bào: giảm
 
Đơn nhân lớn: tăng
 
Bạch cầu: tăng
 
Đơn nhân: có
 
Thủy đậu:
 
Hồng cầu: bình thường
 
Bạch cầu đa nhân: bình thường
 
Tuỷ bào: bình thường
 
Đơn nhân lớn: bình thường hoặc giảm
 
Bạch cầu: bình thường hoặc giảm
 
Đơn nhân: không
 
- Phân biệt với ngưu đậu toàn thân (sau tiêm vaccin đậu mùa) thường biến chứng cục bộ, chỗ tiêm chủng ban cũng xuất hiện một lúc, có nhiều tuổi dưới dạng nốt phỏng, không có mụn mủ. Sau 3 ngày đã bắt đầu khô, không để lại sẹo, xuất hiện sau khi tiêm chủng 8-10 ngày.
 
- Phân biệt với một số bệnh ngoài da ở trẻ em gây nốt phỏng nhất là chốc lở.

Phòng ngừa:

Phát hiện bệnh sớm và cách ly người bệnh để tránh lây lan cho cộng đồng:
 
Thời gian cách ly: nghỉ học, nghỉ làm 7 ngày từ lúc bắt đầu phát ban hay khi nốt rạ đã bong vảy.
 
Người bệnh nên ở phòng riêng, sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng.
 
Thực hiện vệ sinh phòng ở của người bệnh (bàn ghế, tủ giường, đồ chơi…) hàng ngày bằng nước Javel hoặc dung dịch Cloramin B 2%, sau đó rửa lại bằng nước sạch. Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng.
 
Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: khi cần tiếp xúc thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.
 
Tiêm chủng là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa bệnh thủy đậu:
 
Vaccin chống thuỷ đậu có hiệu quả cao và lâu dài, giúp cơ thể tạo kháng thể chống lại virus thủy đậu, được áp dụng đối với các đối tượng sau:
 
- Tất cả trẻ em từ 12-18 tháng tuổi được tiêm 1 lần.
 
- Trẻ em từ 19 tháng tuổi đến 13 tuổi chưa từng bị thuỷ đậu lần nào cũng tiêm 1 lần.
 
- Trẻ em trên 13 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu lần nào thì nên tiêm 2 lần, nhắc lại cách nhau từ 4-8 tuần.
 
Hiệu quả bảo vệ của vaccin thủy đậu có tác dụng lâu bền.
 
Nếu đã được tiêm phòng vaccin thủy đậu thì đại đa số (80-90%) có khả năng phòng bệnh tuyệt đối. Tuy nhiên, khoảng 10% còn lại là có thể bị thủy đậu sau khi tiêm chủng, nhưng các trường hợp này cũng chỉ bị nhẹ, với rất ít nốt đậu, khoảng dưới 50 nốt, và thường là không bị biến chứng.
 
Thời gian ủ bệnh của thuỷ đậu là từ 1-2 tuần sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, do đó, nếu một người chưa được tiêm phòng vaccin thuỷ đậu mà có tiếp xúc với bệnh nhân thuỷ đậu, trong vòng 3 ngày ta có thể tiêm phòng thì vaccin có thể phát huy tác dụng bảo vệ ngay sau đó giúp phòng ngừa thủy đậu.
 
Những ai cần được tiêm chủng?
 
Tất cả các trẻ em trên 12 tháng tuổi.
 
Người lớn chưa từng được tiêm ngừa thủy đậu.
 
Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chưa từng bị bệnh thủy đậu hoặc chưa được tiêm phòng lúc nhỏ.
 
Những đối tượng nào không nên tiêm phòng vaccin ngừa thủy đậu?
 
Những phụ nữ đang có thai hoặc nghi ngờ có thai.
 
Những người dị ứng với thuốc Neomycine.
 
Bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, bệnh nhân đang sử dụng các loại thuốc Corticoid.
 
Bệnh nhân bị bệnh ác tính về máu.
 
Bệnh nhân bị nhiễm trùng cấp tính hoặc đang bị sốt.

Điều trị:

1. Nguyên tắc:
 
- Cách ly để đề phòng lây lan.
 
- Không có thuốc đặc trị, nên điều trị triệu chứng giải độc.
 
- Xử lý tốt các nốt phỏng, nốt loét, đề phòng bội nhiễm.
 
- Thời gian cách ly tới khi ban hết mọc, vẩy đã bong hết.
 
2. Điều trị cụ thể:
 
- Khi trẻ sốt cao, cần cho uống thuốc hạ nhiệt: Paracetamol... Uống thuốc an thần chống co giật: Gacdenal, Seduxen, Canxi bromua 3%...
 
- Chống ngứa bằng các thuốc kháng histamin như: Dimedrol
 
- Khi có bội nhiễm: dùng kháng sinh thích hợp. Cho các loại vitamin...
 
- Đặc biệt chú ý tới công tác săn sóc:
 
• Cho bệnh nhân nằm buồng thoáng, tránh gió lùa, đề phòng biến chứng.
 
• Vệ sinh răng miệng bằng nước muối sinh lý, dung dịch Axit Boric 1%.
 
• Vệ sinh tai mũi họng.
 
• Vệ sinh da: giữ cho da khô sạch, không để cho trẻ gãi. Các nốt loét phải chấm dung dịch Xanh Metylen hoặc thuốc tím 1/4000, mặc quần áo mềm sạch.
 
• Đảm bảo ăn lỏng, ấm, đủ dinh dưỡng, đủ calo.

Biến chứng:

Biến chứng của bệnh thủy đậu rất là nhiều, mặc dù đây là một bệnh lành tính.
 
Không có triệu chứng nặng nề ngoài những hồng ban mụn nước lan tràn. Tuy nhiên, bệnh có thể có những biến chứng rất quan trọng.
 
Biến chứng nhẹ của bệnh là nhiễm trùng da nơi mụn nước, nặng hơn vi trùng có thể xâm nhập từ mụn nước vào máu gây nhiêm trùng huyết.
 
Các biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não... là các biến chứng có thể nguy hiểm đến tính mạng, hay để lại di chứng sau này.
 
Đặc biệt, thậm chí sau khi bệnh nhân đã khỏi bệnh, siêu vi thuỷ đậu vẫn còn tồn tại trong các hạch thần kinh dưới dạng bất hoạt (ngủ đông). Nhiều năm sau đó, có thể là 10, 20, hay 30 năm sau, khi có điều kiện thuận tiện như sức đề kháng cơ thể kém hay có yếu tố gì khác, thì siêu vi này sẽ tái hoạt động trở lại và gây ra san thương của bệnh Zona, có người còn gọi là giời leo.
 
Phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh thủy đậu sẽ rất nguy hiểm vì sẽ dễ bị biến chứng nặng, đặc biệt là viêm phổi.
 
Khi phụ nữ mang thai bị thủy đậu ở 3 tháng đầu của thai kỳ, virus sẽ gây sảy thai, hay khi sinh ra trẻ sẽ bị thủy đậu bẩm sinh với nhiều dị tật như đầu nhỏ, co gồng tay chân, bại não, sẹo bẩm sinh... Còn nếu bị trong những ngày sắp sinh hay sau sinh trẻ bị lây bệnh sẽ bệnh rất nặng với mụn nước nổi rất nhiều và dễ bị biến chứng viêm phổi.

Chế độ chăm sóc:

Nên làm gì khi có người thân bị thủy đậu?
 
Để bệnh nhân nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời.
 
Vệ sinh mũi họng hằng ngày cho bệnh nhân bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9% (nước muối sinh lý và dung dịch Milian có bán ở hiệu thuốc tây).
 
Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày cho người bệnh bằng nước ấm. Nên cho người bệnh mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.
 
Cắt móng tay và giữ móng tay trẻ sạch. Có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.
 
Dùng dung dịch Milian chấm lên các nốt phỏng nước (tốt nhất là khi các nốt phỏng nước đã vỡ).
 
Cho trẻ uống Paracetamol để hạ sốt nếu trẻ sốt cao (không được dùng thuốc Aspirine).
 
Cho trẻ ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước nhất là nước hoa quả (cam, chanh).

Bài thuốc dân gian: